Pazêng rau pr’hát chr’nắp pr’hay, đh’rưah lâng tr’coọ xa nul xay p’căh ghít rau j’niêng âng crâng k’coong nắc rau tr’haanh ooy rau chr’nắp pr’hay coh văn hoá âng manuyh Khơ Mú

    Tu bhrợ ha rêê đhuốch lâng pr’ắt tr’mông đăn lâng crâng k’coong, nắc j’niêng văn hoá âng đhanuôr Khơ Mú n’léh ghít rau chr’nắp âng crâng k’coong. Hân đhơ pr’ắt tr’mông nâu cơy vêy bấc rau tr’xăl, nắc rau chr’nắp liêm ty đanh ahay nắc dzợ vaih coh pr’ắt tr’mông zập t’ngay, xay p’căh ghít coh bh’rợ bhiệc bhan, tr’coọ xa nul ty đanh. Bha ar xrặ âng Tô Tuấn, phóng viên Đài P’rá Việt Nam. Đhanuôr lâng pr’zớc đh’rưah đương xơợng.

    Ha dang ngai ơy muy chu tước ooy bhươl cr’noon âng đhanuôr Khơ Mú, nắc bơơn ắt lâng pr’ắt tr’mông têêm ngăn coh m’pâng crâng k’coong ga mắc. Pazêng đong đh’rơơng vêy ta bhrợ têng tơợ cram, cr’đe, đợ khăn, a doó t’viêng cơnh pr’họm âng crâng k’coong, đợ pr’hát xa nul pr’hay pr’méh, t’băh cơnh đác tọm đh’rưah lâng pazêng rau tr’coọ xa nul chr’va chr’đhô coh prang da ding k’coong.

            Rau lêy ghít bhlâng nắc đong ắt. Rau đêếc nắc pazêng đhr’nong đong đh’rơơng, vêy ta bhrợ têng tơợ n’loong, cram, cr’đe, xa pợ lâng plăng, hoọng đong za nươur ooy da ding p’loọng t’hước ooy ta huung.

Rau n’léh âng crâng k’coong dzợ bấc coh pazêng rau pr’đươi cóh pr’loọng đong, rau đêếc nắc đợ pr’đươi vêy ta taanh bhrợ lâng ha vey, pa oo. Nắc pazêng rau tr’coọ xa nul công vêy ta bhrợ tơợ cr’đe, bhrợ t’váih đợ xa nul pr’hay pa bhlâng, bhrợ t’vaih rau la liêm pr’hay pa bhlâng coh pazêng rau pr’hát âng manuyh Khơ Mú.

    T’cooh Đinh Sáu, manuyh pa chắp ch’mêết lêy ooy tr’coọ xa nul âng manuyh acoon coh prá:

    Pazêng rau tr’coọ xa nul xay p’căh pazêng rau chr’nắp pr’hay âng crâng k’coong nắc dzợ n’leh coh pr’ắt tr’mông âng đhanuôr Khơ Mú n’đăh mặt t’ngay lơớp âng tỉnh Nghệ An. Pazêng rau tr’coọ xa nul cơnh: ôm đing, Đao, Tót, Pí tơm… nắc đoọng đươi bêl ng’hát Tơm căh cậ ng’hát Kưn chơ ( pr’hat ty đanh âng đhanuôr Khơ Mú). Pazêng tr’coọ xa nul n’nâu nắc choom ta đươi pr’hay lâng bêl t’nơớt coh pazêng rau bhiệc bhan âng manuýh Khơ Mú cơnh: t’nơớt khăn, t’nơớt haanh deh c’moo t’mêê…

         N’jưl t’coọ “Đao” nắc tr’coọ xa nul bấc vêy ta đươi coh đhanuôr Khơ Mú. Tr’coọ xa nul n’nâu vêy ta bhrợ tơợ pr’đươi c’pân a chim oó chô cha ha roo coh hân noo chơợt ha roo. Đao vêy ta bhrợ tơợ n’coo cr’đe, bêl t’coọ nắc bhrợ t’vaih xa nul bêl grâm, bêl ch’liêng chr’va ch’ngai. Tót nắc rau a luốt vêy 4 căh cậ 6 bêệ boọng vêy ta bhrợ lâng cr’đe. Pí tơm nắc a luốt vêy ta bhrợ tơợ cr’đe nhuum lâng rau xa nul ngoọ cơnh xa nul đhí coh da ding k’coong ga mắc. Pí tơm buôn vêy ta plong bêl hát pr’hát Tơm.

         Hân đhơ cơnh đêếc, tr’coọ xa nul chr’nắp bhlâng âng manuyh Khơ Mú nắc ng’xay tước “Ôm đing” nắc rau n’jưl coh tr’nơớp vêy ta bhrợ tơợ n’coo cr’đe dzếch đác coh ha rêê. Manuýh Khơ Mú nắc plaah loom n’coo cr’đe đoọng bhrợ a ngon n’jưl. T’cooh Công Dân, đhanuôr Khơ Mú prá:

           Bêl ahay manuyh Khơ Mú kiêng t’nơớt nắc căh vêy chiing goong, nắc pay n’coo cr’đe đoọng t’coọ xal đoọng ha chiing goong. Bêl t’coọ nắc xa nul, a ngọn đhị m’pâng nắc vêy xa nul k’tứi, a ngon đăn đêếc nắc vêy xa nul mơ glặp lâng a ngon x’rịa nắc vêy xa nul k’rơ, đoọng choom bhrợ vêy xa nul cơnh đêếc nắc công k’đháp.

    Nắc tu pr’ắt bh’rợ la liêm lâng crâng k’coong lâng kiêng hát t’nơớt nắc bhrợ t’vaih c’rơ đoọng manuyh Khơ Mú bhrợ t’vaih pazêng rau tr’coọ xa nul n’nâu. Xa nul âng n’jưl Ôm Đing buôn vêy ta piáh đoọng k’đơơng pazêng cơnh t’nơớt, pr’hát bêl bhiệc bhan, cơnh cr’noọ cr’niêng âng manuyh Khơ Mú la liêm pr’hay, ắt mamông liêm crêê lâng crâng k’coong.

    Pazêng rau pr’hát xa nul xay p’căh ghít rau âng crâng k’coong, rau đêếc nắc chr’nắp âng văn hoá phi vật thể căh muy âng đhanuôr Khơ Mú ting n’nắc nắc cr’van zazum âng zập acoon manuyh Việt Nam, coh đêếc xay p’căh ghít rau văn hoá tr’coọ xa nul chr’nắp pr’hay âng manuyh Khơ Mú. Tu cơnh đêếc, bh’rợ zư lêy lâng pa dưr pazêng rau chr’nắp âng bhiệc bhan xoọc nắc vêy ta k’rang lêy.

    Ting cơnh Tiến sỹ Vi Văn An, manuyh bhrợ têng bh’rợ pa chắp ch’mêết lêy ooy manuyh acoon coh Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam:

            Tr’nơớp nắc ch’mêết lêy pazêng rau pr’hát ty đanh lâng tr’coọ xa nul âng manuyh Khơ Mú đoọng zư lêy ha lang k’coon ch’chau công cơnh zư lêy đợ rau chr’nắp ha tr’coọ xa nul Việt Nam. Lấh ooy bh’rợ zư lêy cơnh n’lơớp, p’căh tr’coọ xa nul đhị Bảo tàng, nắc bh’rợ zư lêy cơnh n’léh ghít, nắc ng’zúp zooi đoọng ha đhanuôr đhị đêếc, đoọng apêê đoo pa choom bh’rợ bhrợ têng tr’coọ xa nul ha lang t’tun.

             Pazêng rau pr’hát chr’nắp pr’hay, đh’rưah lâng tr’coọ xa nul xay p’căh ghít rau j’niêng âng crâng k’coong nắc rau  tr’haanh ooy rau chr’nắp pr’hay coh văn hoá âng manuyh Khơ Mú. Nâu cơy pr’ắt tr’mông tr’xăl bấc, hân đhơ cơnh đêếc manuýh Khơ Mú nắc dzợ ắt mamông liêm crêê lâng crâng k’coong, ta luôn bhrợ pa dưr rau chr’nắp pr’hay đoọng ha pr’ắt tr’mông, bhrợ t’vaih rau la liêm pr’hay tơợ rau ng’k’noọ k’tứi nắc pa bhlâng chr’nắp ga mắc âng crâng t’viêng ơy cher đoọng ha acoon manuyh./

 

Dấu ấn núi rừng trong đời sống và âm nhạc của người Khơ Mú

                                                                                                                                TÔ TUẤN

    Do tập quán canh tác nương rẫy và cuộc sống sinh họat gắn bó mật thiết với thiên nhiên, nên đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Khơ Mú luôn mang đậm dấu ấn của núi rừng. Dù cuộc sống hôm nay có nhiều đổi thay, song dấu ấn của những tập quán tốt đẹp xưa vẫn in đậm trong sinh hoạt hàng ngày, thể hiện rõ nét trong các hoạt động lễ hội, âm nhạc dân gian truyền thống. 

   Nếu ai từng một lần ghé vào thăm các bản của đồng bào Khơ Mú, hẳn sẽ được hòa mình cuộc sống yên bình giữa thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ của núi rừng. Những nếp nhà sàn được dựng nên từ cây rừng tre, nứa, những bộ khăn, áo xanh thẫm màu cây rừng, những làn điệu hát dân ca hồn nhiên và trong trẻo như tiếng suối chảy cùng các nhạc cụ mang âm hưởng đại ngàn sâu thẳm và thân thương. 

Hình ảnh dễ dàng cảm nhận là kiến trúc nhà ở. Đó là những ngôi nhà sàn gần gũi thiên nhiên được làm hoàn toàn từ chất liệu gỗ rừng, tre nứa, mái lợp bằng cỏ tranh, khum khum hình mai rùa, tựa lưng vào đồi và ngoảnh mặt ra thung lũng. 

    Dấu ấn núi rừng còn thể hiện ở rất nhiều vật dụng trong gia đình, đó là những đồ đan lát thủ công làm từ tre nứa. Ngay cả những loại nhạc cụ cũng được sáng tạo làm từ thân cây tre, nứa, phát ra những âm thanh rất đặc trưng, góp phần làm nên vẻ đẹp say đắm trong các làn điệu dân ca của người Khơ Mú. 

    Ông Đinh Sáu, nhà nghiên cứu âm nhạc, sưu tầm các loại nhạc cụ dân tộc ít người, cho biết: 

    Các nhạc cụ mang hồn đại ngàn ấy đến ngày nay vẫn xuất hiện nhiều trong đời sống của đồng bào dân tộc Khơ Mú ở phía Tây tỉnh Nghệ An. Các loại nhạc cụ như: “Ôm đing”, “Đao”, “Tót”, "Pí tơm"… dùng để đệm cho điệu hát “Tơm” hay hát “Kưn chơ”( thể loại hát dân gian đặc trưng của người Khơ Mú). Những nhạc cụ này có thể làm tiết tấu nhạc nền vui nhộn cho các vũ điệu trong những lễ hội mang tính cộng đồng của người Khơ Mú như: “Tẹ cạ grang” (múa cá lượn), “Tẹ rơ vơớt” (múa khăn), “Tẹ muôn pị hâm mệ” (múa mừng năm mới...

    Đàn gõ “Đao” loại nhạc cụ phổ biến trong cộng đồng Khơ Mú. Nhạc cụ này có nguồn gốc từ dụng cụ đuổi chim khỏi về ăn hạt lúa giống trong mùa tra hạt được. “ Đao” được làm từ những ống nứa, khi gõ tạo những chuỗi âm kép rung vọng, lúc thầm thì, lúc vang xa. "Tót" là loại sáo dọc có 4 hoặc 6 lỗ  được chế tác từ tre hay nứa. "Pí Tơm" là loại sáo dọc được chế tác từ những đoạn tre non với âm sắc độc đáo như tiếng gió vi vu giữa đại ngàn bao la. Pí Tơm thường được đệm cho làn điệu hát dân ca Tơm. 

          Tuy nhiên, nhạc cụ độc đáo nhất của người Khơ Mú phải  kể đến “Ôm đing” là loại đàn ban đầu được sáng tạo từ những ống tre đựng nước trên nương. Người Khơ Mú đã tách cật ống tre làm thành giây đàn. Ông Công Dần, dân tộc Khơ Mú, cho biết:

    Ngày xưa người Khơ Mú muốn nhảy múa mà không có cồng chiêng, nên nghĩ ra lấy ống nứa để làm thay cho cồng chiêng. Đàn khi đánh bật ra tiếng, giây giữa có tiếng nhỏ, gây bên cạnh có tiếng bình thường và tiếng to, mà làm được như thế cũng khó. 

    Chính tâm hồn chan hòa với thiên nhiên và yêu thích nhảy múa hát ca đã là động lực để người Khơ Mú sáng tạo nên loại nhạc cụ này. Tiếng đàn“ Ôm Đing” thường được đệm giữ nhịp cho các điệu múa hát những ngày lễ hội như chính tâm hồn của người Khơ Mú đôn hậu, thủy chung, sống chan hòa giữa thiên nhiên

    Những làn điệu dân ca và những nhạc cụ mang âm hưởng núi rừng chính là giá trị văn hóa phi vật thể vô giá không chỉ của dân tộc Khơ Mú mà còn là tài sản chung của cộng đồng dân cư các dân tộc Việt Nam, ở đó mang đậm nét sinh hoạt văn hóa âm nhạc hấp dẫn của dân tộc Khơ Mú. Chính vì vậy, việc gìn giữ và phát huy các giá trị của lễ hội đang được cộng đồng quan tâm. 

    Theo Tiến sỹ Vi Văn An, nhà nghiên cứu dân tộc ít người ở Bảo tàng Dân tộc Học Việt Nam:

    Trước hết phải khảo sát lại toàn bộ các làn điệu dân ca và nhạc cụ của người Khơ Mú để bảo tồn cho các thế hệ con cháu của họ cũng như bảo tồn những giá trị cho nền âm nhạc Việt Nam. Ngoài các hình thức bảo tồn tĩnh, trưng bày các nhạc cụ tại các Bảo tàng, thì hình thức bảo tồn động, tức là khuyến khích, hỗ trợ cho người dân tại cộng đồng để người ta truyền nghề làm nhạc cụ cho thế hệ con cháu.

    Những làn điệu dân ca trong trẻo cùng các nhạc cụ mang âm hưởng đại ngàn là niềm tự hào về bản sắc văn hóa độc đáo của người Khơ Mú. Ngày nay cuộc sống đã có nhiều đổi thay, song người Khơ Mú vẫn sống đắm mình giữa thiên nhiên, luôn biết làm đẹp cho cuộc sống, làm đẹp tâm hồn mình từ những điều tưởng chừng như bình dị mà vô cùng quý giá mà ngàn xanh đã ban tặng cho con người./.

 

 

Hệ PA XUL P'RÁ ACOON CÓH VOV4 ZR'LỤ MIỀN TRUNG
Đông bhrợ bhiệc đhị: 40 Pasteur, thành phố Đà Nẵng
Giám đốc: Phạm Tấn Tư
Phó Giám đốc: Lê Hải Sơn