logovov
VOV4 - Hệ Phát Thanh Dân Tộc

Dân tộc Kháng

NGƯỜI KHÁNG
 

diuconnnn.jpg

Tên tự gọi: Mơ Kháng.
Tên gọi khác: Háng, Brển, Xá.
Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi...
Dân số: 3.840 người 
(theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Họ nói thạo tiếng Thái.
Lịch sử: Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta.

hom may nguoi khang.jpg

Ðan hòm mây là một nghề thủ công truyền thống của người Kháng. Sản phẩm của nghề này được ưa chuộng nên đã trở thành mặt hàng phổ biến.
Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo với cách thức phát đốt, chọc lỗ tra hạt. Có thể phân thành 3 nhóm:

  • Nhóm sống du canh du cư: làm rẫy.
  • Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng.
  • Nhóm định canh định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy. Tập quán trồng lúa nếp kết hợp trồng ngô, sắn, vừng... Chăn nuôi khá phát triển: lợn, gà, vịt, trâu, bò. Nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mây, gùi...) Người Kháng giỏi đóng và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én. Thuyền của họ đóng được các dân tộc anh em ưa mua dùng.

Ăn: Người Kháng thích ăn xôi và các món có vị chua, cay như: cá ướp chua, dưa lá củ ráy ngứa, món hỗn hợp gồm lá lốt, thịt, ớt, tỏi, rau thơm hoà trộn, đồ chín. Tục uống bằng mũi (tu mui) là nét văn hóa độc đáo của họ. Người Kháng quen uống rượu trắng, rượu cần, hút thuốc lá và hút thuốc lào.

mua tam dao.jpg

Cùng cư trú lâu đời trên một địa bàn, nhiều nếp sinh hoạt của người Kháng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Thái. Bộ nữ phục Kháng trong ảnh mang dáng dấp nữ phục Thái Trắng.

Mặc:Người Kháng ăn mặc giống người Thái.

Ở: Nhà ở có 2 dạng: nhà tạm bợ và nhà kiên cố. Nhà sàn gồm 1 mái và 2 mái, không phủ nóc, không có chái, có cửa chính thông suốt từ đầu này sang đầu kia, thông với cầu thang nên xuống.

Phương tiện vận chuyển:Gùi có dây đeo qua trán, thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Nằm trong sự quản lý của các mường Thái trước đây, Người Kháng không có tổ chức xã hội riêng. Chức dịch cao nhất trong bản là: quan cai gần như Tạo bản người Thái. Trong các bản người Kháng đã có sự phân hoá giàu nghèo.

Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản. Bên cạnh đó cũng tồn tại một số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, vai trò ông cậu... Trưởng họ vẫn có vai trò nhất định.

Cưới xin: Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng của người Kháng vừa tự do vừa phải qua nhiều nghi thức. Sau bốn năm đêm tìm hiểu ngủ lại nhà người con gái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì tiến hành ăn hỏi và rất nhiều nghi thức mà đôi trẻ và hai bên nhà trai nhà gái phải thực hiện. Sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồng trẻ phải làm lễ ra mắt hai họ, nhà trai mới tổ chức đón dâu. Ðây là lễ quan trọng nhất.

vietnamdtkhang003.jpg

Người Kháng cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây bắc, có thói quen dự trữ nước ăn trong các ống bương. Gùi nước về nhà trên chiếc gùi đeo bằng trán.

Ma chay: Người Kháng có tục chia của cho người chết gồm: chăn, đệm, dao, bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi... và những gì khi còn sống người quá cố thường dùng. Tất cả những lễ vật này được đặt phía trên đầu mộ. ở phía đầu mộ còn chôn một cái cột cao, trên đó buộc treo một hình con chim bằng gỗ và một cái áo mà người chết thường mặc. Sau khi chôn xong, về đến nhà, anh em, bà con phải đứng dưới gầm sàn để ông cậu cắt một nhúm tóc bỏ vào bát nước lã đựng trứng, cá sấy khô rồi đem vứt ở vệ đường vào bãi tha ma để hồn người chết không về quấy rối con cháu, người thân.

Thờ cúng: Họ tin rằng con người có 5 hồn. Một hồn chính ở trên đầu bốn hồn ở tứ chi. Khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, bốn hồn còn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi "ăn". Người ta còn tin nhiều loại ma khác như: ma suối, ma bản... Người Kháng thờ ma bố và có tục thờ ma mẹ. Việc cúng bố mẹ được tiến hành 3 năm một lần. Ðây là lễ vui nhất, gia đình thường mời anh em, bà con trong bản tới dự bữa cơm, sau đó xoè, múa thâu đêm.

Lễ tết: Người Kháng ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới và thực hiện các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp nương rẫy.

Văn nghệ: Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày. Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người Thái, thuộc nhiều tục ngữ cao dao.




    05:00 - 05:15 - Chao kơ – Tơdra kơnăl Grup VOV4 – Tơbăt jơ rapor Nơ\r Yuăn: Nơ\r Yuăn
    05:15 - 06:00 - Tơdrong jo\h hơri rim hơdrung Tây Nguyên: Nơ\r Êđê
    06:00 - 06:30 - Rapor nơ\r Yuăn: VOV1
    06:30 - 06:40 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Êđê
    06:40 - 06:50 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Jarai
    06:50 - 07:00 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Bahnar
    07:00 - 07:10 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Sêdang
    07:10 - 07:20 - Rapor Kơtơ\ng ang kăl Nơ\r K’ho
    07:20 - 07:30 - Rapor Kơtơ\ng ang kăl Nơ\r M’nông
    07:30 - 08:15 - Rapor kơtă nơ\r JaRai
    08:15 - 09:00 - Rapor kơtă nơ\r Bahnar
    09:00 - 09:45 - Rapor kơtă nơ\r Sêdăng
    09:45 - 10:30 - Rapor kơtă nơ\r Êđê
    10:30 - 11:15 - Rapor kơtă nơ\r K’ho
    11:15 - 12:00 - Rapor kơtă nơ\r M’nông
    12:00 - 12:30 - Rapor nơ\r Yuăn tơring Tây Nguyên
    15:30 - 16:15 - Tơdrong rapor nơ\r M'nông
    16H15 - 17H00 - Tơdrong rapor nơ\r Êđê
    17H00 - 17H45 - Tơdrong rapor nơ\r Jarai
    17H45 - 18H00 - Tơbăt jơ rapor
    18H00 - 18H45 - Tơdrong rapor nơ\r Yuan
    18:45 - 19:30 - Tơdrong rapor nơ\r K'ho
    19H30 - 20H00 - Tơdrong rapor nơ\r Mông
    20H00 - 20H30 - Tơdrong rapor nơ\r Thái
    20H30 - 21H15 - Tơdrong rapor nơ\r Sêdang
    21:15-22:00 - Tơdrong rapor nơ\r Bahnar
    22H00 - 22H30 - Tơdrong rapor nơ\r M’nông
       Chọn ngày khác »  Chọn ngày khác
    Họ và tên
    Email
    Tiêu đề
    Nội dung
    Mã bảo vệ (*)