Ở thôn Đông Thịnh, xã Văn Miếu, tỉnh Phú Thọ, anh Hà Tuyên, dân tộc Mường, là một trong những hộ sản xuất, kinh doanh tiêu biểu với mô hình chăn nuôi kết hợp đa dạng cây trồng, vật nuôi như chè, keo, cau tứ quý, lợn rừng lai, gà ri và hươu.
Dù phương thức sản xuất hiện tại mang lại nguồn thu tương đối ổn định, khoảng trên dưới 100 triệu đồng mỗi năm, anh Tuyên vẫn nhận thấy cần tìm một hướng đi mới bền vững hơn, thay vì chỉ dựa vào những cây trồng, vật nuôi cho thu hoạch ngắn ngày.
Sau thời gian dài ấp ủ, đầu năm nay, anh mạnh dạn vay 100 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để chuyển đổi hơn 2ha diện tích cây công nghiệp ngắn ngày sang trồng cây gù hương, hướng tới phát triển rừng gỗ lớn.
Theo tính toán của anh Tuyên, khi trưởng thành, cây gù hương có thể mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với cây nguyên liệu thông thường, bởi gỗ được sử dụng để sản xuất đồ nội thất cao cấp. Về lâu dài, anh cũng kỳ vọng có thể tham gia thị trường tín chỉ carbon, tạo thêm nguồn thu để tái đầu tư vào những loại cây ngắn ngày, phục vụ quá trình chăm sóc và phát triển rừng gỗ lớn. Nếu mô hình phát huy hiệu quả, đây còn có thể trở thành hướng sản xuất để người dân trong khu vực tham quan, học hỏi và nhân rộng.
Còn tại xã biên giới Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang, nơi có vùng chè Shan Tuyết nổi tiếng trải dài trên những sườn dốc của dãy Tây Côn Lĩnh, một số hộ dân bắt đầu thử nghiệm những mô hình cây trồng, vật nuôi mới nhằm đa dạng hóa sinh kế, giảm sự phụ thuộc vào cây chè truyền thống.
Gia đình ông Nông Đình Chiến, ở thôn Giang Nam, là một trong những hộ mạnh dạn chuyển hướng sản xuất. Tận dụng hơn 1.000m² sân phơi chè sẵn có, ông đầu tư dựng nhà kính, lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt tự động và trồng 1.000 gốc dưa vàng. Vụ dưa đầu tiên mang lại doanh thu hơn 100 triệu đồng.
Theo ông Chiến, trồng dưa trong nhà kính giúp kiểm soát sâu bệnh, hạn chế ảnh hưởng bất lợi của thời tiết vùng cao và bảo đảm chất lượng quả đồng đều. Nếu được chăm sóc tốt, mô hình có thể cho thu hoạch ba vụ mỗi năm. Từ kết quả bước đầu, gia đình ông đang mở rộng diện tích nhà kính, đăng ký mã số vùng trồng và mã truy xuất nguồn gốc, từng bước chuẩn bị điều kiện để tiếp cận những thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn.
Những mô hình sản xuất mới cho thấy, khởi nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số có thể chỉ khởi đầu bằng những thay đổi nhỏ trong cách nghĩ, cách làm của mỗi người nông dân.
Khi những lợi thế sẵn có được khai thác đúng hướng, nông nghiệp vùng dân tộc thiểu số không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập mà còn mở ra những hướng phát triển mới, bền vững hơn cho người dân ngay trên quê hương mình./.

Viết bình luận