Liên kết để sản xuất cà phê bền vững
Thứ ba, 11:48, 13/10/2026 Nguyễn Thảo Nguyễn Thảo
[VOV4] - Tại Gia Lai, sản xuất cà phê bền vững đang bắt đầu từ những thay đổi trong từng vườn cây, với sự tham gia của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Các bên đang từng bước hình thành chuỗi liên kết sản xuất có trách nhiệm.

 

Trên khu vườn rộng 2 ha ở làng Phăm Ngol, xã Bờ Ngoong, tỉnh Gia Lai, ông A Ngăn phát bớt cỏ giữa những hàng cà phê, giữ lại lớp che phủ để duy trì độ ẩm cho đất. Hai năm nay, kể từ khi tham gia sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C, ông vẫn thực hiện những công việc quen thuộc như bón phân, tưới nước, chăm sóc cây nhưng đã thay đổi phương thức canh tác theo hướng bền vững hơn.

Thay vì sử dụng thuốc diệt cỏ và dọn sạch cỏ trong vườn, ông chỉ phát cỏ khi cần thiết. Vỏ cà phê sau thu hoạch được thu gom, ủ cùng phân chuồng trong nhiều tháng để tận dụng làm phân bón hữu cơ. Ông cũng phối hợp với đơn vị liên kết đo tọa độ, xác định vị trí vườn cây nhằm phục vụ công tác quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Ông A Ngăn cho biết: “Làm cà phê bền vững thì gia đình tôi cũng liên kết làm cà phê 4C, phải phối hợp đi đo tọa độ vườn cây, khi bán cho doanh nghiệp để xác định nguồn gốc thì sẽ được doanh nghiệp hỗ trợ phần trăm, trích cho các hộ dân tùy theo sản lượng”.

Tại xã Đak Đoa, việc tham gia chuỗi liên kết sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C cũng mang lại lợi ích thiết thực cho người trồng. Cà phê của các thành viên hợp tác xã được thu mua cao hơn giá thị trường khoảng 500 đồng/kg quả tươi.

Là Giám đốc Hợp tác xã Glar, đồng thời trực tiếp sản xuất cà phê tại làng Tuơh Klăh, ông Y Uê thường xuyên hướng dẫn các hộ thành viên thực hiện quy trình đã thống nhất với doanh nghiệp liên kết. Những yêu cầu như không sử dụng thuốc diệt cỏ, không dùng thuốc thuộc danh mục cấm, chăm sóc và thu hái đúng hướng dẫn dần trở thành trách nhiệm chung của các hộ dân.

Theo ông Y Uê, việc thống nhất quy trình sản xuất giúp hạn chế tình trạng mỗi hộ làm theo một cách, ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu của đơn vị thu mua: “Hợp tác xã của chúng tôi không lo đầu ra khi sản xuất cà phê sạch, không phun thuốc cỏ, không sử dụng thuốc trong danh mục cấm và quản lý danh sách các hộ sản xuất. Hợp tác xã Glar hoạt động từ năm 2020, gồm 15 thành viên chính thức, liên kết với 130 hộ trên diện tích 169 ha, sản lượng 715 tấn”.

Không chỉ hướng đến sản xuất theo tiêu chuẩn bền vững, các mô hình liên kết tại Gia Lai còn mở ra cơ hội phát triển những dòng cà phê có giá trị cao hơn.

Tại Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Lam Anh, xã Đak Đoa, nông dân ở nhiều buôn làng được kết nối để phát triển mô hình canh tác hữu cơ theo hướng thuận tự nhiên. Sản phẩm cà phê đặc sản của hợp tác xã đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao cấp tỉnh, từng bước tiếp cận nhiều thị trường trong nước và quốc tế.

Theo ông Lê Hữu Anh, Giám đốc hợp tác xã, để nâng cao giá trị hạt cà phê, việc thay đổi phương thức chăm sóc vườn cây cần đi đôi với xây dựng niềm tin của người dân vào hướng sản xuất mới và kiên trì nâng cao chất lượng sản phẩm: “Bằng hình ảnh người nông dân chân chất, có niềm tin lớn vào giá trị của hạt cà phê, chúng tôi đã thay đổi cách chăm sóc vườn cây, nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này không chỉ giúp tăng giá trị cà phê mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp bà con làm giàu từ chính cây cà phê”.

Cùng với nỗ lực của nông dân và hợp tác xã, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ở Gia Lai đang tăng cường hỗ trợ, kiểm soát việc thực hiện tiêu chuẩn ngay từ vùng trồng. Đây là khâu quan trọng để bảo đảm chất lượng đồng đều, đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc và quy trình sản xuất của thị trường xuất khẩu.

Ông Thái Như Hiệp, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp cho biết, doanh nghiệp đang chuyển nhật ký canh tác từ ghi chép thủ công sang ứng dụng trên điện thoại thông minh. Thông qua ứng dụng, nông dân cập nhật các thông tin về bón phân, sử dụng thuốc, tưới nước và thu hoạch. Dữ liệu được sử dụng để quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình sản xuất và phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Doanh nghiệp bắt đầu triển khai từ năm 2023, phát triển phần mềm truy xuất nguồn gốc và thí điểm với một số hộ nông dân vào cuối năm 2024. Trong giai đoạn 2025-2026, việc hướng dẫn nông dân sử dụng ứng dụng được đẩy mạnh, từng bước thay thế sổ nhật ký canh tác viết tay bằng hình thức ghi chép trên điện thoại.

Việc số hóa nhật ký canh tác không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý vùng nguyên liệu hiệu quả hơn mà còn hỗ trợ nông dân minh bạch hóa quá trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc cà phê.

Gia Lai hiện có 107.400 ha cà phê, trong đó gần 56.700 ha được cấp các chứng nhận bền vững như: 4C, Rainforest Alliance và hữu cơ. Từ những thay đổi trong phương thức canh tác đến ứng dụng công nghệ số, yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc đang dần được thực hiện đồng bộ từ vườn cây đến khâu thu mua, chế biến.

Theo ông Bạch Thanh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, việc xây dựng chuỗi sản xuất minh bạch, có trách nhiệm là điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

“Mục đích không những sản phẩm tốt mà phải bảo đảm được toàn bộ chuỗi hành trình sản phẩm. Việt Nam hiện nay là một trong những quốc gia đứng đầu về cà phê Robusta toàn cầu. Nếu chúng ta áp dụng thành công thì không những mang lại giá trị cho thành viên hiệp hội mà còn mang lại giá trị vị thế cho quốc gia”, ông Bạch Thanh Tuấn nhấn mạnh.

Từ những vườn cà phê ở các buôn làng đến khâu thu mua, chế biến, sự liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đang góp phần đưa kỹ thuật canh tác bền vững, công nghệ số và truy xuất nguồn gốc vào sản xuất cà phê tại Gia Lai. Khi quy trình được tuân thủ thống nhất, lợi ích được chia sẻ và đầu ra được bảo đảm, người trồng cà phê có thêm động lực đầu tư, gắn bó lâu dài với cây trồng chủ lực. Đây cũng là nền tảng để Gia Lai nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị hạt cà phê, giảm tác động đến môi trường và củng cố uy tín của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Nguyễn Thảo

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC