logovov
VOV4 - Hệ Phát Thanh Dân Tộc

Dân tộc Nùng

NGƯỜI NÙNG
 


Tên tự gọi:Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người 
(theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê)
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Bếp của người Nùng gồm 2 phần: phần ngoài đặt 3 ông đầu rau hoặc kiềng để nấu ăn và sưởi ấm, còn phần trong là bếp lò đắp bằng đất sét đặt chảo to để nấu cám lợn.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Mỗi dịp tết người Nùng đều làm nhiều loại bánh. Phổ biến các loại bánh được chế biến bằng gạo xay trên các cối xay bằng đá.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thương sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Trong nhà người Nùng bàn thờ tổ tiên thường để ở gian bên trái. Bàn thờ là nơi tôn nghiêm được trang trí những bức hoành phi và câu đối viết bằng chữ Hán trên nền giấy đỏ. Nhiều nơi còn có bức phùng Slăn đề tên dòng họ.

Phương tiện vận chuyển:Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót). Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Mang đồ dẫn cưới sang nhà gái.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Quan niệm phổ biến là mỗi mảnh đất, mỗi khu rừng đều có thổ công. Hàng năm người Nùng đều có lễ cúng thần rừng ở gốc cây cổ thụ hay các tảng đá có hình thù kỳ dị trong các khu rừng cấm. Người ta làm bàn thờ bằng tre, nứa để đặt các lễ vật cúng thần.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...



    05:00 - 05:15 - Chao kơ – Tơdra kơnăl Grup VOV4 – Tơbăt jơ rapor : Nơ\r Yuăn
    05:15 - 06:00 - Tơdrong jo\h hơri rim hơdrung Tây Nguyên: Nơ\r Jarai
    06:00 - 06:30 - Rapor nơ\r Yuăn : VOV1
    06:30 - 06:40 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Êđê
    06:40 - 06:50 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Jarai
    06:50 - 07:00 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Bahnar
    07:00 - 07:10 - Rapor kơtơ\ng ang kăl Nơ\r Sêdang
    07:10 - 07:20 - Rapor Kơtơ\ng ang kăl Nơ\r K’ho
    07:20 - 07:30 - Rapor Kơtơ\ng ang kăl Nơ\r M’nông
    07:30 - 08:15 - Rapor kơtă nơ\r JaRai
    08:15 - 09:00 - Rapor kơtă nơ\r Bahnar
    09:00 - 09:45 - Rapor kơtă nơ\r Sêdăng
    09:45 - 10:30 - Rapor kơtă nơ\r Êđê
    10:30 - 11:15 - Rapor kơtă nơ\r K’ho
    11:15 - 12:00 - Rapor kơtă nơ\r M’nông
    12:00 - 12:30 - Rapor nơ\r Yuăn tơring Tây Nguyên
    15:30 - 16:15 - Tơdrong rapor nơ\r M'nông
    16H15 - 17H00 - Tơdrong rapor nơ\r Êđê
    17H00 - 17H45 - Tơdrong rapor nơ\r Jarai
    17H45 - 18H00 - Tơbăt jơ rapor
    18H00 - 18H45 - Tơdrong rapor nơ\r Yuan
    18:45 - 19:30 - Tơdrong rapor nơ\r K'ho
    19H30 - 20H00 - Tơdrong rapor nơ\r Mông
    20H00 - 20H30 - Tơdrong rapor nơ\r Thái
    20H30 - 21H15 - Tơdrong rapor nơ\r Sêdang
    21:15 - 22:00 - Tơdrong rapor nơ\r Bahnar
    22H00 - 22H30 - Tơdrong rapor nơ\r M’nông
       Chọn ngày khác »  Chọn ngày khác
    Họ và tên
    Email
    Tiêu đề
    Nội dung
    Mã bảo vệ (*)