Đợ apêê giáo viên ắt bhrợ cóh vel bhươl lứch loom tu học sinh
Thứ năm, 00:00, 19/11/2015


Pr’ắt tr’mông đhị zr’lụ ch’ngai bh’dắh xoọc dzợ bấc râu k’đháp k’r. đhơ cơnh đếêc bấc giáo viên tợơ xuôi đấc tình nguyện ắt mamông đh’rứah lâng đhanuôr, pa zay âng đơơng cr’liêng chữ tước học sinh cóh pazêng vel bhươl da ding k’coong, ch’ngai bh’dắh đhị prang k’tiếc k’ruung. Lâng loom luônh liêm ta níh âng học sinh lâng đhanuôr vel bhươl, apêê thầy cô giáo ơy vêy pr’đợơ c’rơ đoọng z’lấh k’đháp k’ra, ắt g’bọ bhrợ têng.

Chắp kiêng bh’rợ, nha nher p’niên k’tứi, pa bhlầng nắc năl lâng thông cảm lâng pr’ắt tr’mông âng học sinh lâng đhanuôr đhị pazêng zr’lụ zr’nắh k’đháp. Nắc râu tu âng pazêng apêê giáo viên cóh xuôi bele tình nguyện ắt g’bọ tr’mung tr’méh lâng lang p’niên âng đay lâng pazêng tỉnh đha rựt pa bhlầng k’đháp đha rựt.

Đhị đâu, apêê zr’lụ trường laléh zêng ch’ngai trung tâm, c’lâng k’tốch lướt ra véch zr’nắh k’đháp, đhơ cơnh đếêc nắc apêê giáo viên cung tình nguyện ắt bhrợ tợơ bêl dzợ đha đhâm c’mor pa tước pêê puôn zệt c’moo, cơnh cô giáo Lê Thị Hằng, Trường Tiểu học Đồng Lương, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá, 36 c’moo pa choom cóh lớp cung nắc đoo cr’chăl ăt g’bọ lâng điểm trường. Cô Hằng moon, tr’nợơp cô tước pa bhrợ đhị điểm trường ch’ngai bhlầng đhị chr’val Đồng Lương, ch’ngai tợơ thị trấn dâng 20km, c’lâng mốp cắh choom lướt lâng xe máy, cắh cợ xe đạp, nắc cô zêng lướt dzung. K’er học sinh pleng p’răng lướt học zr’nắh k’đháp, pleng p’răng nắc ting zr’nắh k’đháp lấh mơ, zập tuâng chô lưm đong moót thứ 7, cô Hằng nắc p’loon câl bh’ar xrắ đoọng ha học sinh, câl za nươu kháng sinh đoọng pa dứah xoọc pr’hân. Cô Lê Thị Hằng moon:

Acu ơy pa choom học đhị zr’lụ pa bhlầng k’đháp k’ra, cắh vêy điện, cắh vêy c’lâng. Tr’nợơp a cu tước đếêc, a cu lêy apêê a đhi k’đhợơng pa niết a vị chrộ, muy đắh têy nắc k’puốt bhoóh, đh’rứah lướt, đh’rứah cha, a cu lêy cơnh đếêc cắh choom k’đhợơng đác mắt. nắc đoo pr’đợơ k’đươi loom cu ắt bhrợ cóh đâu, pa too pa choom đoọng ha pêê a đhi, râu nắc nắc k’đươi moon đoọng ha đhanuôr cóh đâu năl cơnh bhrợ cha.

Cắh muy đha bhúch đắh vật chất, đắh loom luônh k’er âng pr’loọng đong, pazêng giáo viên tình nguyện đấc ooy da ding k’coong, zâng  lâng bấc râu k’đháp zr’nắh cơnh: cắh choom p’rá apêê, cắh ơy năl ghít j’niêng cr’bưn âng đhanuôr cóh đâu bhrợ k’đháp đắh bhiệc pa too pa choom lâng ắt prá cóh zập t’ngay. Thây giáo Đồng Văn Ty ( acoon cóh Thái) pa choom đhị điểm trường la léh ch’ngai bhlầng âng chr’val Sì Lở Lầu, âng trường Tiểu học Sì Lở Lầu, chr’hoong Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đhị âng đhanuôr Dao Đỏ ắt mamông đoọng năl:    Tu pr’ắt tr’mông âng đhanuôr acoon cóh dzợ bấc râu đha rứt đha rắh, zr’nắh k’đháp, k’rang lêy râu cha lalăm, tu cơnh đếêc bấc pr’loọng đong cắh ơy k’rang tước bhiệc học âng acoon đhi pêê. Đh’rứah lâng pleng k’tiếc cóh chr’val Sì Lở Lầu prang c’moo nắc đhr’luúc cợơng, cha cệêt, học sinh lướt học xa nập cắh zập ngăn, pr’đươi học tập bấc râu đha bhúch, tu cơnh đếêc bhiệc zư liêm muy học sinh tước lớp zập zêng nắc râu k’đháp pa bhlầng lâng giáo viên:

K’đháp k’ra bhlầng nắc apêê a đhi cắh lấh năl p’rá a đhuốc. a zi năc pa zưm pa choom prá p’rá apêê lâng đh’rứah pa choom học. đắh zư nhâm mâng, zập zêng học sinh tước lớp nắc râu k’đháp lấh mơ, zập giáo viên nắc vêy cơnh k’đươi moon lalay âng đay, tr’nợơp nắc ta luôn tước đong đhanuôr ắt ch’ớh, vêy bêl tớt cha cha, ộm a lắc, vêy cơnh đếêc nắc apêê vêy đoọng ca coon lướt học. Muy chu acu tước k’đươi moon lâng cọnh căn âng a đhi Tẩn La U acoon cóh Dao, p’niên nâu căh tộ lướt học, acu tước nắc a đoo đhấu lớp. conh căn đoo nắc k’đươi ắt cha a vị xang nắc k’đươi p’niên nâu tước lớp. ắt cha xang lâng tr’xin prá xay lâng học sinh n’nặc, t’ngay t’tun nắc ơy lêy a đoo lướt học.

Mắt đay lêy học sinh tự z’lấh da ding k’coong, chang k’ruung đá đoọng loon đấh tước trường học bêl đấh ra diu lâng rơơm kiêng nắc pa choom cr’liêng chữ, cô giáo Nguyễn Thị Thuê ( vel đong cóh Ninh Bình) bơơn ra pặ choo dạy đhị trường Tiểu học Phố Cáo, chr’hoong Đồng Văn, tỉnh Hà Giang lêy pazêng ta bhúch đắh tinh thần, cơ sở vật chất âng đay nắc căh h’mơ. Cô gr’hoót đhị loom đay nắc ắt bhrợ cóh đâu đoọng pa choom p’niên cr’liêng chữ. Tước nâu kêi, ơy lấh 15 c’moo, cô Thuê cung dzợ pa chắp cơnh đếêc, doó đhưr loom, t’ngya t’ngay ting kiêng ắt g’bọ lâng vel bhươl, tu cô ắt cóh đâu vêy bấc tợơ loom luônh liêm ta níh âng đhanuôr cher đoọng. Cô Nguyễn Thị Thuê prá xay:

Bêl tước lớp, apêê a đhi học sinh chắp nher a đoo bhlầng lâng zập bêl nắc cung pa zay, đương xợơng cô pa choom tu cơnh đếêc nắc acu doó lấh pa ghít đhị cr’chăl apêê học. 10 c’moo nâu ơy, a cu nắc pa choom tước thứ 7, chủ nhật. pa choom đoọng ga goóh doó chấc pay zên ốt. t’ngay 20/11 conh căn học sinh cắh chấc năl tước. Học sinh nắc năl vêy đoo c’moo nắc apêê t’cắt pô crâng cắh cợ lướt câl pô hồng tước hơnh déh cô. Nắc đoo râu bhui har pa bhlầng.

Cắh muy cô Hằng, thầy Vy, cô Thuê a năm nắc dzợ pazêng giáo viên  âi lâng xoọc pa choom học đhị apêê điểm trường đhị apêê vel đong ch’ngai bh’dắh âng 62 chr’hoong đha rựt cóh prang k’tiếc k’ruung, nắc ma nuýh bơơn đhanuôr buôn đớc nắc “ giáo viên ắt bhrợ luôn cóh vel bhươl”, râu bhui har nắc bơơn đớp pazêng loom luônh liêm ta níh âng học trò. Ha dợ bui har âng thầy cô đhị t’ngay 20/11 nắc bơơn đớp pazêng pa nuôr pô crâng laliêm pr’hay âng học sinh đắh da ding k’coong pếêh cher đoọng.

 

Những “Giáo viên cắm bản” hết lòng vì học sinh    

                                                                              Phóng viên: Thu Hiền


Cuộc sống ở vùng sâu, vùng xa hiện nay còn rất nhiều khó khăn, vất vả. Thế nhưng nhiều giáo viên ở miền xuôi đã tình nguyện sống cùng bà con, nỗ lực để đem “con chữ”, mang tri thức đến với học sinh ở những bản làng xa xôi, vùng khó khăn của đất nước. Với tình cảm chân thật của học trò và người dân địa phương, các thầy giáo, cô giáo đã có thêm động lực để vượt qua khó khăn, gắn bó với nghề.

Yêu nghề, mến trẻ, đặc biệt là cảm thông với cuộc sống của học sinh và đồng bào ở những vùng khó khăn. Đó là lý do của hầu hết các giáo viên ở miền xuôi khi tình nguyện gắn bó cuộc sống thời tuổi trẻ của mình với những tỉnh nghèo đặc biệt khó khăn.

Tại đây, các điểm trường lẻ thường ở xa trung tâm, đường xá đi lại khó khăn, nhưng vẫn có những giáo viên tình nguyện gắn bó với nghề từ khi còn trẻ cho tới vài chục năm, như cô giáo Lê Thị Hằng, Trường tiểu học Đồng Lương, Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa chẳng hạn. 36 năm đứng lớp của cô là từng đó thời gian gắn bó với điểm trường. Cô Hằng tâm sự, lần đầu tiên cô đến nhận công tác ở điểm trường lẻ xa nhất ở xã Đồng Lương, cách thị trấn 20 km, đường xấu không thể đi được bằng xe máy, hay xe đạp, cô đành phải đi bộ. Thương học sinh trời nắng đi học vất vả, trời mưa càng khó khăn hơn, mỗi tuần về thăm nhà vào ngày thứ 7, cô Hằng lại tranh thủ mua một ít sách, vở, bút để học sinh dùng, vài vỉ thuốc kháng sinh thông dụng để sơ cứu khi cần gấp. Cô Lê Thị Hằng nói:

Tôi đã dạy vùng đặc biệt khó khăn, không điện, không có đường. Năm đầu tiên tôi tới đó, tôi thấy các em cầm một cục cơm nguội, một tay ngửa ra chấm muối vừa đi vừa ăn tôi đã phải khóc. Động lực thôi thúc tôi phải ở lại đó, thứ nhất là giáo dục các em; thứ hai là vận động bà con biết cách làm ăn.

Không chỉ thiếu thốn về vật chất, về tình cảm gia đình, những giáo viên tình nguyện lên vùng sâu, vùng xa còn phải đối diện với nhiều áp lực như: không biết ngôn ngữ, chưa hiểu phong tục tập quán của người dân bản xứ khiến cho việc giảng dạy và giao tiếp sinh hoạt hàng ngày gặp nhiều khó khăn. Thầy giáo Đồng Văn Ty (dân tộc Thái ) dạy tại điểm trường lẻ ở bản xa nhất của xã Sì Lở Lầu, thuộc Trường tiểu học Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu nơi của người dân tộc Dao Đỏ sinh sống cho biết: Do cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số vẫn còn nghèo khó, phải lo cái ăn trước nên nhiều gia đình chưa quan tâm đến việc học của con em mình. Cộng với thời tiết ở xã Sì Lở Lầu quanh năm có sương mù, lạnh, học sinh đi học quần áo không đủ ấm, đồ dùng học tập thiếu thốn nên để duy trì một học sinh đến lớp thường xuyên là điều không dễ đối với giáo viên:

Khó khăn nhất là các em không biết tiếng phổ thông. Mình phải kết hợp học cả tiếng dân tộc và kết hợp dạy. Việc giữ sĩ số lớp là vấn đề cuả giáo viên, mỗi giáo viên có khả năng vận động riêng, trước tiên là mình phải thường xuyên đến nhà dân chơi giao lưu, có khi còn ăn cơm, uống rượu ở đấy họ mới cho con em đi học. Một lần tôi đi vận động cha mẹ em Tẩn La U người dân tộc Dao, em ấy không chịu đi học, tôi đến em ấy chui xuống gầm bàn trốn . Bố mẹ bảo thầy cứ ở lại đây ăn cơm tôi sẽ bảo cháu cho. Ăn cơm và làm quen dần với em học sinh ấy và hôm sau em ấy đi học”.

Tận mắt chứng kiến học sinh phải tự trèo đèo, lội suối để đến kịp lớp học vào sáng sớm với mong muốn được học chữ, cô giáo Nguyễn Thị Thêu (quê Ninh Bình) được phân công về điểm Trường Tiểu học Phố Cáo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang cảm thấy những thiếu thốn về tinh thần, cơ sở vật chất của mình không thấm vào đâu. Cô thầm hứa sẽ bám bản đến cùng để truyền dạy kiến thức cho các em. Đến nay, đã hơn 15 năm, cô Thêu chưa bao giờ nản lòng, mà càng ngày càng thấy mình gắn bó hơn với bản làng, vì luôn được người dân yêu mến coi như người địa phương. Cô Nguyễn Thị Thêu chia sẻ:

Khi lên lớp, các em học sinh rất yêu quý cô và lúc nào cũng háo hức nghe cô giảng cho nên tôi không quản thời gian kèm các em. 10 năm nay tôi dạy thứ 7, chủ nhật. Dạy không có công. Ngày 20/11 phụ huynh không bao giờ biết đến. Học sinh thì biết có những năm học sinh hái hoa rừng hoặc đi mua hoa hồng đến chúc mừng cô. Đấy là hạnh phúc lắm.

Không chỉ cô Hằng, thầy Vy, cô Thêu, mà với đội ngũ giáo viên dạy học tại các điểm trường ở các thôn bản vùng cao thuộc 62 huyện nghèo trong cả nước, mà người dân thường gọi là “giáo viên cắm bản”, niềm vui là được đón nhận những tình cảm chân thành của học trò. Còn hạnh phúc của các thầy cô trong ngày 20/11 là được đón nhận những bó hoa rừng mộc mạc mà học sinh vùng cao hái tặng.

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC