Coh 54 acoon manuyh Việt Nam, vêy 53 acoon coh, pay 14% đhanuôr prang k’tiêc k’ruung, ăt mamông bâc bhlâng coh da ding k’coong, zr’lụ ch’ngai bha dăh, zr’lụ c’noong k’tiêc. Muy acoon coh năc lứch vêy j’niêng cr’bưn, cr’noọ cr’niêng, pr’ăt tr’mông, tôn giáo la lay, bhrợ t’vaih đợ văn hoá la lay. Coh l’lăm ahay, đhanuôr pazêng acoon coh năc tr’pay diic điêl coh acoon coh đay. Coh c’lâng bh’rợ ăt mamông đh’rưah lâng dưr vaih cơnh xoọc đâu, pân juyh, pân đil acoon coh năc ma chêêc tr’năl, tr’pay diic điêl, cơnh acoon coh Mông năc choom acoon coh Tày, Kinh lâng Tày, Kinh choom pay acoon coh Mông. Hân đhơ cơnh đêêc, xang bêl tr’pay diic điêl, n’niên k’coon năc bh’rợ xay moon tô, a chắc lâng acoon coh đoọng ha k’coon năc vêy pháp luật xay moon ghít pa bhlâng. Điều 42 Hiến pháp 2013 xay moon: Đhanuôr vêy quyền xay moon acoon coh âng đay, đươi dua p’rá âng acoon coh đay, lêy pay prá xay p’rá pa prá. Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015 xay moon: Cha năc manuyh vêy quyền xay moon, xay moon cớ acoon coh âng đay lâng vêy quyền ta đang moon cơ quan nhà nước vêy thẩm quyền xay moon cớ acoon coh ha dang u vaih đhr’năng cơnh đâu: a) Xay moon cớ năc ting acoon coh âng k’conh luônh căh cậ k’căn luônh coh đhr’năng k’conh luônh, k’căn luônh năc bơr acoon coh la lay; b)Xay moon cớ ting acoon coh âng k’conh luônh căh cậ k’căn luônh coh đhr’năng k’coon ta nhăn băn ơy bơơn n’năl k’conh luônh, k’căn luônh âng đay. Bh’rợ xay moon cớ acoon coh âng manuyh tơợ zập muy zệt ta cool c’moo tươc n’dup muy zệt ta cool m’ma năc vêy ađoo xay moon cớ tộ đoọng.
Bh’rợ xay moon acoo coh năc ch’mêệt lêy cơnh khoản 2 Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015: Cha năc manuyh bêl n’niên vêy ta xay moon acoon coh ting cơnh acoon coh âng k’conh luônh, k’căn luônh. Ha dang k’conh luônh, k’căn luônh âng bơr acoon coh la lay năc acoon coh âng k’coon vêy ta xay moon ting acoon coh âng k’conh căh cậ k’căn ting cơnh bha ar xrặ gr’hoot âng anhi a conh a căn luônh. Bha ar bha tơ xay moon cớ acoon coh năc ting cơnh xa nay đhị Khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch c’moo 2014, ting n’năc cha năc manuyh ra văng bha ar Tờ khai ting cơnh pr’đhang lâng pazêng râu bha ar bha tơ crêê tươc đoọng ooy cơ quan bhrợ têng hộ tịch; Bha ar bha tơ xay moon acoon coh âng c’la đay lâng k’conh k’căn. T’cooh Tráng A Phù, bêl ahay bhrợ Phó Chủ tịch MTTQVN tỉnh Lào Cai xay moon: “Lâng đhanuôr acoon coh, cơnh manuyh Tày, k’conh năc manuyh bâc lâh mơ, k’căn năc manuyh Tày bêl n’niên k’coon năc choom ting tô âng k’căn, ting tô gộ, acoon coh âng k’căn.”
Lâng đhr’năng acoon p’niên crêê ta lơi, căh ng’năl ghít k’conh, k’căn luônh lâng vêy ta chô đơơng băn năc xay moon acoon coh năc ting acoon coh âng k’conh đơ băn căh cậ k’căn đơ băn ting cơnh gr’hoot âng anhi nhăn băn. Ha dang năc đhiệp muy a năm k’conh băn căh vêy k’cơnh, căh cậ muy k’căn a năm băn căh vêy k’conh năc acoon coh âng acoon p’niên vêy ta xay moon năc ting acoon coh âng manuyh n’năc. Ha dang lâng acoon p’niên crêê ta lơi, căh ơy n’năl ghít k’conh k’căn luônh lâng căh ơy vêy ngai chô đơơng băn năc vêy ta xay moon acoon coh ting cơnh xa nay ta đang moon âng ađoo t’cooh xa nay đong băn par p’niên pa nar, căh cậ ting cơnh xa nay ta đang moon âng manuyh xoọc zư lêy coh muy cr’chăl coh t’ngay nhăn bhrợ khai sinh đoọng ha acoon p’niên. Cơnh đêêc, xay moon cớ acoon coh năc muy quyền bha lâng âng acoon manuyh vêy pháp luật zư lêy. Lâng bh’rợ xay moon n’nâu năc vêy Uỷ ban nhân dân chr’hoong đhị zr’lụ bhrợ têng hộ tịch l’lăm ahay căh cậ đhị zr’lụ ăt mamông âng manuyh vêy thẩm quyền xay bhrợ bh’rợ xăl, bhr’lậ pa liêm hộ tịch đoọng ha đhanuôr Việt Nam tơợ zập 14 c’moo têh ooy piing.
Bêl vêy ta xay moon acoon coh ting acoon coh âng k’conh, căh cậ k’căn năc cha năc manuyh n’niên vaih năc choom đươi tô âng k’conh căh cậ k’căn. Tô gộ, pr’đơc ng’đơc coh đong căh cậ a chăc âng acoon p’niên năc vêy ta xay moon ting cơnh gr’hoot âng k’conh k’căn ting cơnh xa nay xay moon âng pháp luật dân sự lâng vêy ta xrặ coh Tờ khai nhăn bhrợ khai sinh; ha dang k’conh, k’căn căh vêy xa nay gr’hoot căh cậ căh mr’cơnh cr’noọ xa nay, năc xay moon ting cơnh j’niêng cr’bưn. Ting cơnh t’cooh Tráng A Phù, lâng muy bơr acoon coh bh’rợ xăl tô, a chăc doọ vêy buôn u vaih: “Lâng manuyh Mông tơợ bêl ahay tươc nâu cơy doọ vêy ta xăl tô gộ, ha dợ lâng bh’rợ xăl a chăc tơợ bêl ahay tươc nâu cơy căh bơơn lêy ngai xăl a chăc. Ba bi cơnh ađoo n’nâu năc k’conh k’căn đơc a chăc, xăl a chăc n’lơơng năc căh vêy lâh, vêy cơnh năc căh vêy, căh xăl tô. Ba bi cơnh tô Vàng kiêng xăl ooy tô Giàng năc căh bool vêy. Đhanuôr Mông năc cơnh đêêc.”
Ch’mêệt lêy ooy khoản 1, Điều 36 Nghị định 158/2005/NĐ-CP âng Chính phủ ooy bh’rợ đăng ký lâng k’đhơợng lêy hộ tịch xay moon năc: Xăl tô, a chắc, chữ đệm ơy vêy ta nhăn bhrợ têng crêê cơnh coh bha ar khai sinh lâng ta la bha ar bha lâng âng khai sinh, năc cha năc manuyh ta đang moon xăl bêl vêy xa nay crêê cơnh ting cơnh xa nay xay moon âng Bộ Luật Dân sự lâng Điều 37 xay moon: 1. UBND cấp chr’val, zr’lụ ơy nhăn bhrợ khai sinh coh l’lăm ahay vêy thẩm quyền xay bhrợ bh’rợ xăl, bhr’lậ hộ tịch đoọng ha manuyh n’dup 14 c’moo lâng p’xoọng hộ tịch đoọng ha zập ngai, căh xay moon đợ c’moo ta ha; 2. UBND cấp chr’hoong, năc coh chr’hoong n’năc manuyh n’năc ơy nhăn bhrợ khai sinh coh l’lăm ahay, vêy thẩm quyền xay bhrợ bh’rợ xăl, bhr’lậ hộ tịch đoọng ha manuyh tơợ zập 14 c’moo têh ooy piing lâng xay moon cớ acoon coh, xay moon cớ giới tính, p’xoọng hộ tịch, bhr’lậ hộ tịch đoọng ha zập cha năc, căh ng’xay đợ ta ha.
Điểm a, khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 công xay moon cha năc manuyh vêy quyền k’dua cơ quan nhà nước vêy thẩm quyền xay moon bh’rợ xăl tô, a chăc ha dang: bh’rợ đươi tô, a chăc n’năc bhrợ tr’lúc, bhrợ râu căh liêm crêê ooy pr’ăt tr’mông âng pr’loọng đong, tươc ooy râu đơ chr’năp, quyền, lợi ích crêê cơnh xa nay pháp luật âng manuyh n’năc./.
Bảo đảm quyền được xác định dân tộc, thay tên đổi họ
Giàng Seo Pùa/vov4
Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa đa sắc màu với 54 dân tộc anh em. Từ khi sinh ra, công dân được xác định họ, tên và dân tộc theo cha hoặc mẹ. Cùng với đó, việc xác định lại họ, tên, dân tộc là một quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật bảo vệ.
Trong 54 dân tộc của Việt Nam, có 53 dân tộc thiểu số, chiếm 14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng. Trước đây, đồng bào các dân tộc thiểu số cơ bản là kết hôn đồng tộc. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, nam nữ các dân tộc thiểu số tự do yêu đương, kết hôn, như dân tộc Mông có thể lấy dân tộc Tày, Kinh và ngược lại. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, sinh con thì việc xác định họ tên và dân tộc cho con được pháp luật quy định rất chặt chẽ. Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình và có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây: a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình. 4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Việc xác định dân tộc căn cứ khoản 2 Điều 29 Bộ Luật Dân sự 2015: “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ”. Thủ tục xác định lại dân tộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch năm 2014, theo đó cá nhân phải chuẩn bị Tờ khai theo mẫu và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch; Giấy tờ chứng minh dân tộc của bản thân và cha mẹ. Ông Tráng A Phù, nguyên Phó Chủ tịch MTTQVN tỉnh Lào Cai cho biết: “Đối với đồng bào các dân tộc, như là người Tày, bố là người đa số, mẹ là người Tày khi sinh con cái ra con có thể thay đổi theo dòng họ của mẹ, theo dòng họ, dân tộc của mẹ.”
Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em. Như vậy, xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Và việc xác định này được Ủy ban nhân dân huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên.
Khi được xác định dân tộc theo dân tộc của bố hoặc của mẹ thì cá nhân sinh ra có thể lấy họ của bố hoặc của mẹ. Họ, chữ đệm và tên của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán. Theo ông Tráng A Phù, với một số dân tộc việc thay đổi họ, tên hiếm khi xảy ra: “Đối với người Mông từ trước tới nay chưa có thay đổi họ như vậy, thế còn đổi tên từ trước đến nay tôi chưa thấy đổi tên. Ví dụ tên ông này đã do bố mẹ đặt ra rồi, đổi sang tên khác rất là hiếm mà cũng không có, không đổi họ. Ví dụ họ Vàng muốn đổi sang họ Giàng thì là không bao giờ có. Dân tộc Mông đó là như vậy.”
Căn cứ khoản 1, Điều 36 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định thì: Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự” và Điều 37 quy định: “1. UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi; 2. Ủy ban nhân dân cấp huyện, mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây, có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi.
Điểm a, khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợp “việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó”./.
Viết bình luận