...Apêê chr’hoong da ding k’coong Quảng Nam nắc ơy bhrợ têng bấc cr’noọ bh’rợ pa dưr kinh tế, r’pặ đhanuôr ắt mamông pa tệêt lâng bhrợ pa dưr bh’rợ tr’nêng, zúp zooi đhanuôr đắh zên bạc, m’ma… đoọng r’dợ pa xiêr đhr’năng pr’loọng đong đha rựt, t’bil lơi r’dợ bhlưa zr’lụ đồng bằng lâng da ding k’coong
N’đhơ đhr’năng đha rựt vêy xiêr ting c’moo, ha dợ nắc tước cr’chăl xoọc đâu, đợ pr’loọng đong đha rựt đhị 9 chr’hoong da ding k’coong âng tỉnh Quảng Nam dzợ bấc. Lâng 6 chr’hoong da ding k’coong pazêng Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Na Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, đợ pr’loọng đng đha rựt pay lấh 43%. Lâng đhr’năng lalua nâu, cóh pazêng c’moo hay, apêê chr’hoong da ding k’coong Quảng Nam nắc ơy bhrợ têng bấc cr’noọ bh’rợ pa dưr kinh tế, r’pặ đhanuôr ắt mamông pa tệêt lâng bhrợ pa dưr bh’rợ tr’nêng, zúp zooi đhanuôr đắh zên bạc, m’ma… đoọng r’dợ pa xiêr đhr’năng pr’loọng đong đha rựt, t’bil lơi r’dợ bhlưa zr’lụ đồng bằng lâng da ding k’coong.
C’moo 2014, a moó A Lăng Thị Cờ Rớt cóh vel A Bông chr’val Mà CoÓih, chr’hoong da ding k’coong Đông Giang, tỉnh Quảng Nam bơơn chóh đhiêr đong nắc zêng prớ t’viêng k’nặ tước hân noo bơơn pếêh. Lấh 200 t’nơơm prớ bơơn díc điêl a moọ tợơp chóh bhrợ ơy bơơn pếêh 2 chu, zập chu pa câl nắc lấh 1 ức đồng. Cơnh đếêc, zập c’xêê pr’loọng đong a moó cung vey pa xoọng tợơ 2-3 ức đồng tợơ t’nơơm prớ đoọng k’rang pr’ắt tr’mông.
Lalăm a hay, acu cung ơy chóh zập râu t’nơơn tợơ a bhoo tước a rong, a tuông, đhơ cơnh đếêc cắh vêy âng chô bh’nơơn bh’rợ râu rị. Tợơ bêl chóh t’nơơm prớ nâu nắc lêy dưr chắt liêm, zập c’xêê bơơn pếêh 2 chu. XoỌc đâu, chr’nắp prớ pa câl 200 r’bhầu đồng, cung vêy bh’nơơn bh’rợ đoọng băn apêê ca coon. A cu xoọc chóh t’bấc đhăm prớ, tu prớ nắc bơơn chr’nắp lâng vêy hợp tác xã k’rong câl zêng.
![]()
Chóh prớ A Riêu nắc muy cóh bấc cr’noọ bh’rợ âng chr’hoong da ding k’coong Đông Giang xoọc xay bhrợ đoọng pa dưr dal bh’nơơn, ta bil ha ul pa xiêr đha rựt đoọng ha đhanuôr. Cr’chăl c’moo 2011-2015, chr’hoong Đông Giang ơy xăl tợơ đhăm k’tiếc k’tứi, bhrợ têng lalhéh đoọng xăl bhrợ têng k’rong lâng apêê cr’noọ bh’rợ cơnh: bhrợ têng ha roo SRI, chóh c’rêê cóh dứp gâm âng crâng, chóh prí a vương cấy mô, chóh keo cóh ha rêê ha roo… Cóh đếêc, bấc cr’noọ bh’rợ ơy pa dưr bh’nơơn, âng chô tệêm ngăn đoọng ha đhanuôr. Ghít nắc, cr’noọ bh’rợ chóh prớ A Riêu đhị chr’val Mà Cóih đhị đhăm bhứah 6ha lâng lấh 20 pr’loọng đong ting pấh, zập hân noo bơơn muy pr’loọng đong vêy vêy âng chô tước 40 ức đồng, vêy đoo pr’loọng đong âng chô 60 ức đồng. Cr’noọ bh’rợ chóh prí, pa bhlầng nắc chóh prí a vương cấy mô, tợơ ơy lơi zên k’rong bhrợ têng nắc đhanuôr dzợ âng chô mơ 90 ức đồng zập hecta đhị zập c’moo. Ting cơnh pa căn Mai Thị Hồng Đinh, Trưởng Phòng Dân tộc chr’hoong Đông Giang, pr’ắt tr’mông âng đhanuôr Cơ Tu cóh chr’hoong nắc ơy bơơn ha dưr dal đươi vêy choom bhrợ têng cơnh khoa học kỹ thuật đhi pa bhrợ ta têng:
Bêl xay bhrợ apêê cr’noọ bh’rợ, a hêê nắc chớih pay apêê pr’loọng đong đhanuôr lalau kiêng ting pấh k’rong bhrợ têng. Apêê pr’loọng đong bơơn đoọng zên bhrợ teng, m’ma chóh lâng pa choom cơnh chóh bhrợ, k’rang lêy, zúp zooi đhị pa câl chr’nóh chr’bệêt. Xọoc đâu, chr’hoong Đông Giang ơy bhrợ têng bấc cr’noọ bh’rợ, t’váih bh’nơơn đoọng ha pêê pr’loọng đong đha rựt pa dưr tr’mung tr’méh. Lâng cr’noọ bh’rợ chóh prớ A Riêu, a hêê nắc ơy bhrợ t’váih Tổ hợp tác đoọng zúp zooi đhanuôr. Xang nắc cr’noọ bh’rợ chóh prí a vương cấy mô cung bơơn vêy bh’nơơn liêm dal.
Ha dợ đhị chr’hoong da ding k’coong Bắc Trà My, đhị vêy lấh 52% đhanuôr acoon cóh Ca Dong, Xê Đăng, Mơ Nông, Cor ắt mamông, chính quyền lâng zập ngành chức năng ơy bhrợ têng liêm choom apêê cr’noọ bh’rợ k’đhợơng lêy, zư lêy crâng đươi tợơ đhanuôr. Xọoc đâu, chr’hoong Bắc Trà My ơy bhrợ pa dưr 43 tổ, đội đhanuôr zư lêy crâng k’nặ 300 ch’nắc ting pấh. Tợơ cr’noọ bh’rợ nâu, pazêng đhăm crâng grâm đhị chr’hoong Nam Trà My bơơn ta zư lêy liêm choom, ha dợ đhanuôr nắc bơơn ta chroót zên zư lêy crâng lâng mơ 200 r’bhầu đồng muy hecta, cung cơnh bơơn đươi dua râu liêm choom tợơ crâng. T’coóh Nguyễn Đình Tiên, Phó Trưởng phòng Dân tộc chr’hoong Bắc Trà My đoọng năl:
Chr’hoong Bắc Trà My ơy t’bhlầng bhiệc xay moon đoọng ha đhanuôr ting pấh zư lêy crâng. C’lâng bh’rợ nắc k’rong đhị pazêng apêê cán bộ bha lầng, vêy uy tín cơnh t’coóh vel, trưởng cr’noon đoọng tợơ đếêc nắc pazưm lâng chính quyền xay moon đoọng ha đhnauôr ting pấh zư lêy. A hêê nắc cung bhrợ têng chính sách chroót zên đoọng ha đhanuôr ting pấh zư lêy. Lâng pa choom đoọng ha đhanuôr bơơn pay râu cr’van lơơng tợơ crâng.
![]()
T’mêê đâu, UBND tỉnh Quảng Nam ơy bhrợ têng Hội nghị prá xay kinh nghiệm pa dưr tr’mung tr’méh xã hội bhlưa apêê chr’hoong da ding k’coong. Đhị Hội nghị nâu, bh’cộ chr’hoong da ding k’coong nắc ơy prá xay kinh nghiệm cóh bhiệc bhrợ têng apêê cr’noọ bh’rợ pa dưr tr’mung tr’méh, r’pặ đhanuôr pa tệêt lâng pa dưr bh’rợ tr’nêng, pa zưm zập đắh đoọng ha dưr… t’coóh Lê Trí Thanh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam moon: lâng pr’đợơ xoọc vêy, apêe chr’hoong da ding k’coong nắc choom t’bil ha ul pa xiêr đha rựt tợơ apêê cr’noọ bh’rợ chóh t’nơơm za nươu cóh dứp gâm âng t’la crâng, pa dưr du lịch sinh thái, du lịch cóh đhanuôr, r’pặ đhanuôr ắt mamông pa tệêt lâng zư lêy crâng, r’pặ k’tiếc ắt, k’tiếc bhrợ cha đoọng ha đhanuôr… Cr’chăl ha y nắc tỉnh QUảng Nam xay bhrợ apêê c’lâng bh’rợ zúp đoọng ha đhanuôr acoon cóh pa dưr bh’rợ tr’nêng, ta bil ha ul pa xiêr đha rựt:
Lêy vêy apêe dự án liêm k’rơ đoọng pa dưr zr’lụ da ding k’coong. Tu ha dang muy pa chắp hớơ tước pa xiêr đha rựt a năm, xó t’pun bhlếh lơi râu k’đháp xoọc tr’nợơp nắc k’đháp đoọng ha dưr zr’lụ da ding k’coong tỉnh Quảng Nam. Tu cơnh đếêc nắc lêy bhrợ têng, r’pặ đhanuôr liêm chr’nắo đoọng vêy pr’đợơ k’rong bhrợ têng hệ thống cơ sở hạ tầng. đh’rứah lâng đếêc nắc bhiệc zao k’tiếc, zao crâng đoọng ha đhanuôr, tỉnh nắc bhrợ t’váih apêê zr’lụ bhrợ têng, băn bh’nă k’rong đoọng đhanuôr pa tệêt lâng đhị ắt mamông t’mêê, ting cợnh c’lâng bhrợ têng bhươl cr’noọn t’mêê cr’chăl 2016-2020.
Tợơ pazêng cr’noọ bh’rợ pa dưr kinh tế xoọc xay bhrợ vêy bh’nơơn đhị apêê chr’hoong da ding k’coong lâng apêê c’lâng bh’rợ xoọc tr’nợơp ha dợ nhâm mâng âng tỉnh Quảng Nam nắc pa zay tước c’moo 2020, đợ pr’loọng đong đha rựt đhị zr’lụ da ding k’coong xiêr dzợ mơ 22%, pr’ắt tr’mông âng đhanuôr acoon cóh ting t’ngay ting bơơn ha dưr lâng r’dợ nắc ting t’pun đoọng loon apêê đắh xuôi./.
MIỀN NÚI QUẢNG NAM
CHIA SẺ KINH NGHIỆM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Mặc dù có giảm theo từng năm, nhưng đến thời điểm hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo ở 9 huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam vẫn ở mức cao. Riêng 6 huyện vùng cao gồm Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, tỷ lệ hộ nghèo chiếm hơn 43%. Trước thực tế này, trong những năm qua, các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đã xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế, gắp xếp dân cư gắn với phát triển sản xuất, trợ giúp bà con về vốn, giống… nhằm từng bước hạ thấp tỷ lệ hộ nghèo, xóa dần khoảng cách giữa khu vực đồng bằng và miền núi.
Năm 2014, chị A Lăng Thị Cờ Rớt, ở thôn A Bông, xã Mà Cooih, huyện miền núi Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đầu tư vốn, giống trồng 200 cây ớt A Riêu trong khu đất vườn nhà. Chỉ một thời gian ngắn, vườn ớt nhà chị đã cho thu hoạch mỗi tháng 2 lần, mỗi lần bán được hơn một triệu đồng. Chị Rớt cho biết: nhờ nguồn thu nhập từ cây ớt A Riêu mỗi tháng 2 đến 3 triệu đồng mà gia đình chị đã bớt khó khăn hơn trong cuộc sống: “Trước đây, mình cũng đã trồng đủ loại cây từ bắp đến sắn, đậu nhưng không có hiệu quả. Sau khi trồng loại ớt này thì thấy cây phát triển tốt, mỗi tháng thu hoạch được 2 lần. Hiện nay, giá ớt mỗi kg 200 ngàn đồng, cũng có thêm thu nhập để nuôi con cái. Mình đang ươm giống để mở rộng diện tích ớt, vì ớt được giá và có hợp tác xã thu mua hết.”
![]()
Trồng ớt A Riêu là một trong nhiều mô hình mà huyện miền núi Đông Giang đang triển khai thực hiện để nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân. Giai đoạn 2011-2015, huyện Đông Giang đã chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang phương thức sản xuất tập trung bằng các mô hình như: sản xuất lúa cải tiến SRI, trồng mây dưới tán rừng, trồng chuối già lùn cấy mô, mô hình xen canh lúa rẫy với cây keo…Trong đó, nhiều mô hình đã phát huy hiệu quả, đem lại thu nhập ổn định cho người dân. Cụ thể, mô hình trồng ớt A Riêu tại xã Mà Cooih trên diện tích 6 héc ta với hơn 20 hộ tham gia, mỗi vụ thu hoạch, một gia đình thu lãi ít nhất 40 triệu đồng, có hộ lên 60 triệu đồng. Mô hình trồng chuối, đặc biệt là chuối già lùn cấy mô, sau khi trừ chi phí đầu tư, bà con thu lãi gần 90 triệu đồng/héc ta/1 năm. Theo bà Mai Thị Hồng Đinh, Trưởng Phòng Dân tộc huyện Đông Giang, đời sống của đồng bào Cơ Tu trên địa bàn huyện đã được nâng lên rõ rệt nhờ biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất: “Khi triển khai các mô hình sản xuất, chúng tôi chọn các hộ dân thực sự mong muốn tham gia để đầu tư. Các hộ dân được cấp vốn, giống và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, Đông Giang đã thực hiện nhiều mô hình, tạo thu nhập cho các gia đình nghèo phát triển kinh tế. Riêng mô hình ớt A Riêu chúng tôi đã thành lập Tổ hợp tác để hỗ trợ dân. Rồi mô hình trồng chuối già lùn cấy mô cũng rất hiệu quả.”

Còn tại huyện vùng cao Bắc Trà My, nơi có hơn 52% đồng bào các dân tộc Ca Dong, Xê Đăng, Mơ Nông, Kor sinh sống, chính quyền và các ngành chức năng đã thực hiện hiệu quả mô hình quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng. Hiện nay, huyện Bắc Trà My đã xây dựng được 43 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng gần 300 người tham gia. Từ mô hình này, những cánh rừng nguyên sinh ở Bắc Trà My được bảo vệ nghiêm ngặt, còn người dân được trả phí kinh phí bảo vệ rừng với mức bình quân 200 nghìn/1 héc ta cũng như được hưởng lợi các nguồn lâm sản phụ từ rừng. Ông Nguyễn Đình Tiên, Phó Trưởng Phòng Dân tộc huyện Bắc Trà My cho biết: “Huyện Bắc Trà My đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền bà con tham gia quản lý bảo vệ rừng. Chủ trương là tập trung vào những người cốt cán, có uy tín như già làng, trưởng thôn để từ đó phối hợp với chính quyền tuyên truyền vận động bà con tham gia. Chúng tôi cũng thực hiện chính sách chi trả kinh phí bảo vệ rừng cho các hộ và nhóm hộ nhận khoán, đồng thời hướng dẫn bà con thu hoạch lâm sản phụ từ rừng.”
Mới đây, UBND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức Hội nghị chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội giữa các huyện miền núi. Tại Hội nghị này, lãnh đạo các huyện miền núi đã trao đổi kinh nghiệm trong việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, gắp xếp dân cư gắn với phát triển sản xuất, lồng ghép nguồn lực đầu tư để phát triển…Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho rằng: với tiềm năng hiện có, các huyện miền núi hoàn toàn có thể xóa đói giảm nghèo từ các mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng, phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, sắp xếp dân cư gắn với giao đất giao rừng, bố trí đất ở, đất sản xuất cho bà con…Thời gian tới, tỉnh Quảng Nam sẽ triển khai các giải pháp động lực, giúp đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo: “Phải có những dự án động lực để phát triển khu vực miền núi. Bởi vì nếu chỉ loay hoay suy nghĩ đến công tác giảm nghèo, chạy theo giải quyết những vấn đề trước mắt thì rất khó để vực dậy khu vực miền núi tỉnh Quảng Nam. Vì vậy phải thực hiện sắp xếp bố trí dân cư hợp lý để có điều kiện đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng. Bên cạnh việc giao đất giao rừng cho dân, tỉnh sẽ hình thành các vùng sản xuất, chăn nuôi tập trung để người dân gắn bó với nơi ở mới, theo định hướng xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.”.
Từ những mô hình phát triển kinh tế đang triển khai hiệu quả tại các huyện miền núi và các giải pháp căn cơ của tỉnh, Quảng Nam phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi giảm xuống còn 22%, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện và dần tiến kịp miền xuôi./.
Viết bình luận