Manứih Khmer ting j’niêng cr’bưn phật giáo nắc lêy ha ooy vêy apêê ắt nắc
cóh đêếc cắh choom cắh vêy đợ đhr’nông chùa. Chùa cắh nặc mưy đhị lướt vốch âng
râu ma bhưi chr’nắp nắc dzợ đhị trường pachoom học, pachoom đoọng kinh nghiệm
bhrợ têng, trung tâm j’niêng cr’bưn, văn hoá, giáo dục âng cộng đồng. chùa nắc
ơy chrooi pa’xoọng liêm chr’nắp đắh bhiệc bhrợ padưr pr’ắt tr’mung lâng zư lêy
pr’hoọm văn hoá âng manứih Khmer.
Chùa âng manứih Khmer
nắc ta bhrợ têng đươi dua zr’nưm cung cơnh gươl moong âng hêê, đhr’nông đông
zr’nưm âng đhanuôr zâp acoon cóh zr’lụ Tây Nguyên lâng truíh toor biển miền
Trung. Hân đhơ cơnh đêếc, đhr’nông chùa âng manứih Khmer ắt pazưm liêm chr’nắp
lâng đhanuôr lấh mơ. Lâng apêê pân’jứih, tơợ bêl dzợ p’niên tước bêl lướt học nắc
trường học tr’nơợp nắc đhr’nông chùa. Đợ t’tưn dưr pậ benh nắc bơơn zâp ngai
công nhận, đợ apêê nâu nắc ơy lướt zi’lấh đợ c’moo c’xêê ắt tu hành cóh chùa.
Bhrợ têng bhiệc bhan, xay xơ âng manứih Khmer zêng vêy ting pấh âng zâp apêê sư
sãi. Manứih Khmer bhuốih a’bhô giang, tô gộ đhị zâp đông chùa.
Cắh mưy xa’nay bh’rợ
tôn giáo, bhrợ p’cắh zâp râu cr’noọ bh’rợ âng tôn giáo manứih Khmer, chùa nắc
dzợ zư đợc bấc ơl kinh sách, kinh luân âng Phật giáo, nắc đhị đoọng đương hơnh
déh ta’mooi ch’ngai đăn. Manứih khmer cóh chùa lâng zâp apêê sư sãi cơnh ngoọ
mưy pr’loọng đông liêm chr’nắp âng đay. T’coóh Nguyễn Hùng Vĩ, manứih lêy
cha’mêết văn hoá bh’lêê bh’la moon:
Manứih Khmer lêy đhr’nông chùa ma bhưi chr’nắp bhlâng, n’jứah liêm
chr’nắp tôn giáo, râu dưr váih ooy pr’ắt tr’mung, đhị apêê lướt vốch đoọng xay
moon zâp râu ooy pr’ắt tr’mung zâp t’ngay. Lâng apêê lêy nâu đoo nắc râu tự
hào. Zâp râu c’rơ chr’nắp ooy đhanuôr đoọng lứch ooy đhr’nông chùa, hadợ cắh
vêy bấc đoọng ha đhr’nông chùa âng đay.
Đhr’nông chùa âng manứih
Khmer zâp bêl cung bơơn bhrợ padưr liêm chr’nắp, p bhứah, boọc bhrợ zâp cơnh
lâng đợ chr’tốp, bh’bhung laliêm tóch dal. Manứih Khmer bhrợ đông chùa dal tu
ooy j’niêng cr’bưn âng apêê, chr’tốp tóch dal nắc đoo ma bhưi chr’nắp, ooy đêếc
nắc zâp a’bhô dang ắt tớt. PGS.TS Lâm Bá Nam, trường đại học khoa học xã hội
lâng nhân văn, đại học quốc gia Hà Nội đoọng năl:
Chùa Khmer vêy kiến trúc pabhlâng liêm chr’nắp, nắc kiến trúc dal,
lalay lâng kiến trúc âng zâp chùa cóh đồng bằng Bắc bộ. ooy mưy quần thể bha’nụ
vel bhươl âng manứih Khmer nắc zâp bêl đhr’nông chùa cung bơơn bhrợ padưr đhị 1
k’tiếc liêm dal lâng nắc dưr n’léh mưy cơnh liêm chr’nắp đhị cộng đồng. râu ma
bhưi chr’nắp âng chùa Khmer lalay cơnh, nắc đhị băn zư đhanuôr, xay moon pazêng
đợ râu kiến trúc chùa ting trường phái Nam tông.
Ooy nghệ thuật boọc
coọch lâng kiến trúc âng manứih Khmer, cr’chăl đợ kiến trúc bh’bhung đông tóch
dal, râu buôn năl k’cắh nắc chr’tốp chùa buôn boọc bhrợ bấc cơnh, cơnh tượng
k’xanh Naga, mưy râu linh vật ting cơnh cr’noọ âng manứih Khmer nắc vêy công pậ
chr’nắp cóh Phật pháp. K’xanh Naga vêy ta bhrợ zâp cơnh, 3 a’cọ bhrợ p’cắh đoọng
ha plêệng, k’tiếc, acoon manứih, 5 a’cọ nắc Kim-Mộc-thuỷ-hoả-thổ, 6 a’cọ nắc
bhrợ p’cắh đoọng ha pêê pân’đil, p’lêê k’tiếc, a’chặc a’rang lâng râu chêết
bil, 7 a’cọ nắc bhrợ p’cắh râu pr’ắt bh’rợ cóh tu hành lâng 9 a’cọ nắc acoon
c’lâng lướt dzoọc cóh plêệng. đại đức Dương Quân, chùa Xiêm Cán, tỉnh Bạc Liêu
xay moon đắh râu k’xanh Naga nâu:
Xa’nay t’ruíh bh’lêê bh’la xay moon, bêl boo đhí ngân k’rơ, đác chô
nong lít. K’xanh poọr gun bhrợ tr’nớt đoọng ha đức phật tớt. bêl đức phật tớt
ooy đêếc nắc k’xanh bhrợ p’cắh râu c’rơ bhrợ bấc a’cọ đoọng g’đêl boo đhí ha đức
phật, đoọng hay k’noọ ooy c’rơ bh’rợ âng k’xanh Naga lâng kiến trúc chùa Khmer
buôn ta bhrợ cơnh đêếc.
Ting cơnh manứih lêy
cha’mêết văn hoá bh’lêê bh’la Nguyễn Hùng Vĩ, bêl lêy cha’mêết lâng zâp đoo kiến
trúc chùa cóh prang k’tiếc k’ruung, chùa Khmer bơơn xay moon nắc râu liêm chr’nắp
bhlâng, cơnh ngoọ mưy ta’la tranh íh bhrợ bấc pr’hoọm, xay moon j’niêng cr’bưn
lalay âng acoon cóh Kh’mer:
Lêy mưy đhr’nông chùa liêm chr’nắp ooy đợ cấu trúc k’tứi, bhrợ padưr
râu c’léh bh’rợ laliêm. Ooy đâu lêy pr’ắt bh’rợ âng manứih Khmer liêm chr’nắp
bhlâng lâng k’rơ k’van. Apêê k’van lấh mơ apêê ắt mamung cóh sa mạc, zr’lụ
cha’cêết ra’ngoóh cắh cậ đợ đhị apêê chấc lướt t’bơơn t’mung. Apêê vêy mưy
pr’đơợ bh’rợ pậ chr’nắp bhlâng.
Chùa Khmer zâp đhị
cóh tỉnh đồng bằng k’ruung Cửu Long zêng váih, tước 540 chùa pậ tứi. hân đhơ
bhrợ padưr đhị zâp cr’chăl lịch sử lalay cơnh nắc đắh kiến trúc, zâp đhr’nông
chùa Khmer zêng nặc mưy xa’nay bh’rợ nghệ thuật, ooy đâu vêy bấc chùa Khmer ty
tước k’ha riêng c’moo bơơn ta công nhận nắc c’cir lịch sử văn hoá cấp k’tiếc
k’ruung lâng nắc đhị lướt lêy chi’ớh âng ta’mooi cóh cr’loọng k’tiếc k’ruung
lâng cóh k’tiếc k’ruung lơơng.
Tất lang, zâp ngai
Khmer zêng ắt pazưm liêm nhâm lâng bh’rợ tr’nêng âng đhr’nông chùa. Đhị đâu n’jứah
nặc đhị pa’gơi râu ma bhưi chr’nắp âng tô gộ, n’jứah nặc đhị pachoom zâp ngai
đhanuôr đắh học vấn lâng văn hoá ắt mamung ooy pr’ắt tr’mung zâp t’ngay. Xoọc
đâu ooy cr’chăl xăl t’mêê, lướt moót zr’lụ bha’lang k’tiếc, râu giao lưu lâng
đương pay văn hoá đắh lơơng ting pậ bhứah nắc chùa Khmer cung dzợ t’bhlâng zư đợc
liêm chr’nắp, chrooi pa’xoọng bhrợ padưr pr’ắt tr’mung, cr’noọ cr’niêng âng zâp
ngai đhanuôr Khmer./.
Chùa trong đời sống tinh
thần của người Khmer
Người
Khmer theo tín ngưỡng Phật giáo nên ở đâu có sự hiện diện của họ thì ở đó không
thể vắng bóng những ngôi chùa. Chùa không chỉ là điểm đến của tâm linh mà còn
là trường dạy học, truyền bá kinh nghiệm sản xuất, trung tâm tín ngưỡng, văn
hóa, giáo dục của cộng đồng. Chùa đã góp phần quan trọng trong việc hình thành
nhân cách và gìn giữ bản sắc văn hóa của người Khmer.
Chùa của người Khmer là một thiết chế cộng
đồng tương tự như đình làng của người Việt, ngôi nhà chung của bà con các dân
tộc ở khu vực Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Nhưng, ngôi chùa của người
Khơme gắn bó mật thiết với người dân hơn nhiều. Với mỗi người đàn ông, từ thời
thơ ấu cho đến tuổi đi học thì trường học đầu tiên chính là ngôi chùa. Trở
thành người thành niên được cộng đồng công nhận, người đó phải trải qua những năm
tháng tu hành ở chùa. Đám cưới, đám tang của người Khmer đều có sự tham gia của
các vị sư sãi. Người Khmer thờ tổ tiên tại các ngôi chùa.
Không chỉ là một công trình tôn giáo, thể hiện
tất cả tư duy, sinh hoạt của tôn giáo của người Khmer, chùa còn chứa đựng một
kho kinh sách, kinh luận của Phật giáo, là nơi để tiếp khách xa gần. Người
Khmer trọng vọng ngôi chùa và các vị sư sãi như chính gia đình thân thiết của
mình. Ông Nguyễn Hùng Vĩ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, cho rằng:
"Người
Khmer coi ngôi chùa vừa thiêng liêng vừa thân thiết, vừa mang ý nghĩa tôn giáo,
vừa mang ý nghĩa hiện sinh của cuộc sống, nơi người ta đi lại để tham vấn bất
cứ điều gì trong đời sống hàng ngày. Và người ta coi đó là niềm tự hào. Mọi
năng lượng cộng đồng dồn hết cho ngôi chùa chứ người ta ít dồn cho chính ngôi
nhà của mình".
Ngôi chùa của người Khmer bao giờ cũng được xây
dựng bề thế, trang nghiêm, chạm khắc rất tinh tế, công phu với mái cong, nóc
nhọn, tháp cao vút nằm giữa khuôn viên. Người Khmer xây tháp chùa cao bởi trong
tín ngưỡng, chóp nhọn chính là đỉnh núi thiêng, trên đó các vị thần linh ngự và
lan tỏa theo từng lớp, từng lớp mái. Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Bá Nam, Trường
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, cho biết:
"Chùa
Khmer có kiến trúc vô cùng độc đáo, là kiến trúc cao vút, khác hẳn với kiến
trúc của các chùa ở đồng bằng Bắc bộ. Trong một quần thể phum, sóc của người
Khmer thì bao giờ ngôi chùa cũng được xây dựng trên một nền đất cao và nó hiện
lên một cách sừng sững giữa cộng đồng. Cái bề thế của chùa Khmer khác hẳn, vì
nó là nơi nuôi dưỡng cộng đồng, phản ánh toàn bộ sắc thái của kiến trúc chùa
theo trường phái Nam tông".
Trong nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc của người
Khmer, bên cạnh kiến trúc nóc nhọn cao vút, điều dễ nhận thấy nữa đó là mái
chùa thường chạm khắc nhiều hình tượng rắn Naga, một linh vật theo quan niệm
của người Khmer là có công lớn trong Phật pháp. Rắn Naga có các hình tượng khá
đa dạng, 3 đầu tượng trưng cho thiên - địa – nhân, 5 đầu là kim - mộc - thủy -
hỏa - thổ, 6 đầu biểu trưng cho nữ giới, trái đất, thể xác và sự chết chóc, 7
đầu tượng trưng cho sự đắc đạo trong tu hành và 9 đầu chính là con đường dẫn
lên thiên đàng. Đại đức Dương Quân, chùa Xiêm Cán, tỉnh Bạc Liêu giải thích về
hình tượng rắn Naga:
"Truyền
thuyết xưa, lúc mưa to gió lớn, nước tràn ngập. Rắn rồng uốn thân mình tạo
thành bệ cao làm chỗ ngồi cho Đức Phật. Khi Đức Phật ngồi trên đó thì con rắn
rồng thể hiện sức mạnh làm nhiều đầu để che mưa gió cho Đức Phật. Từ chỗ đó,
người ta thường lấy hình đầu rắn rồng để gắn lên mái chùa, nhằm nhớ lại công ơn
của rắn Naga và kiến trúc chùa Khmer thường sử dụng như vậy".
Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng
Vĩ, khi so sánh với bất kỳ kiến trúc chùa chiền trên cả nước, chùa Khmer được
đánh giá là đặc sắc nhất, tựa như một bức tranh thêu nhiều mầu sắc, phản ánh
tín ngưỡng rất riêng của dân tộc Khmer:
"Nhìn một ngôi chùa nó sặc sỡ, rực rỡ và
rất uyển chuyển trong những mảng cấu trúc nhỏ, tạo ra sự ngập tràn hình ảnh.
Qua đó, thấy mỹ cảm của người Khmer vô cùng tinh tế và giàu có. Họ giàu có hơn
cư dân sống ở vùng sa mạc, vùng băng giá hoặc những cư dân lầm lũi làm ăn như
người Kinh. Họ có một nền tảng mỹ quan rất lớn".
Chùa Khmer có ở hầu khắp các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long, số lượng lên tới hơn 450 chùa lớn nhỏ. Dù xây dựng ở các giai đoạn
lịch sử khác nhau nhưng về kiến trúc, mỗi ngôi chùa Khmer đều là một công trình
nghệ thuật, trong đó nhiều chùa Khmer cổ có vài trăm tuổi được công nhận là di
tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia và là điểm tham quan của du khách trong và
ngoài nước.
Cả cuộc đời, mỗi người Khmer đều gắn bó vô cùng
chặt chẽ với hoạt động của ngôi chùa. Đây vừa là nơi gửi gắm vong linh tổ tiên,
vừa là nơi đào tạo các công dân cả về học vấn và văn hóa cư xử trong cuộc sống
hằng ngày. Ngày nay, trong quá trình đổi mới, hội nhập khu vực và thế giới, sự
giao lưu và tiếp biến văn hóa với bên ngoài ngày càng rộng lớn thì chùa Khmer vẫn
tiếp tục đóng vai trò quan trọng, tiếp tục góp phần hình thành nhân cách, tư
tưởng của mỗi người dân Khmer./.
Viết bình luận