Đợ apêê k’coon âng vel bhươl
Thứ sáu, 00:00, 15/04/2016

Bil bal, k’ay k’naanh… nắc đợ râu âng zâp g’lúh zêl penh n’đoo lướt zi’lấh cung đợc lơi. Cr’chăl bhiệc zêl penh nâu, dzợ vêy đợ xa’nay bh’rợ chr’nắp liêm. Nâu đoo nắc xa’nay t’ruíh ooy đợ apêê p’niên acoon Kinh bil k’conh k’căn, lướt xrang ắt mưy ađay bơơn acoon cóh Xê Đăng pay băn zư hân đhơ apêê ha ul cha, cắh zâp xập. ahêê đh’rứah xơợng phóng sự tước pấh liên hoan phát thanh prang k’tiếc k’ruung 2016 âng đài PTTH Kon Tum.

Hi’dưm t’ngay 25/5/1972, hi’dưm zr’nắh zr’dô bhlâng, hi’dưm a’rập Mỹ glâm bom ooy đông bhuốih Kon Hring, xoọc đâu nắc chr’val Diên Bình, chr’hoong Đăk Tô, tỉnh Kon Tum chêết bil lấh 500 cha’nặc, cung nặc hi’dưm t’coóh A Hùng bil k’căn k’conh âng đay, cơnh đêếc, mưy hi’dưm, t’coóh lâng k’zệt apêê p’niên lơơng nắc ma p’nar, cắh đông xang.

Pr’đoọng bêl đợ apêê p’niên da’dô nâu bơơn apêê bhrợ cách mạng t’moót ooy zr’lụ hậu cứ Tu Mơ Rông, xoọc đâu nắc chr’hoong Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Đhị đâu, đợ apêê p’niên nâu nắc ơy bơơn đhanuôr Xê Đăng pay băn zư. t’coóh Hùng bơơn pr’loọng đông t’coóh A Tăng lâng Y Lan cóh vel Đăk Chum 1, chr’val Tu Mơ Rông pay băn zư, hân đhơ t’coóh đhưr nắc anhi t’coóh cung ơy vêy 3 p’nong k’coon. Pr’đợc A Hùng bơơn nhi đoo đợc lâng pr’đợc nâu nắc ơy ting t’coóh tước đâu:

Bêl đêếc ahay năl k’căn k’conh bil, cắh vêy ngai băn par nắc cung chêết, cắh vêy râu cha, cha a’rong a’bhoo…

C’moo 1972, bêl k’căn k’conh chêết đhị 1 g’lúh glâm bom âng a’rập, Sơn lâng 2 anhi đha’đhi bơơn đhanuôr pay băn zư. k’coon n’jứih chr’nắp pr’hắt cóh pr’loọng đông k’căn k’conh lấh chêết, hadợ Sơn nắc váih k’coon n’jứih t’ha âng pr’loọng đông, bơơn ta đợc pr’đợc nắc A Sơn lâng bơơn ta nha’nhêr lấh mơ ooy pazêng 5 đhi noo apêê. Xay moon ooy k’conh băn zư ađay lấh chêết, t’coóh hay chắp cắh dzợ cơnh:

K’conh cu nắc liên lạc khu, ađoo lướt liên lạc âng đơơng acu, ađoo lướt lăm, acu ha’luông ta’pưn t’tưn. Ha đhị đhr’đấc lâng đhi bhuông păr p’jroọ bom nắc acu rêên, ađoo bhặ cậ acu. Lướt ooy crâng bơơn xong đông, lướt chấc lêy a’chim a’đhắh đơơng chô cha đắh, pachoom đoọng plong hi’la, t’đang xong óih, achim triing, xong năng.

Nắc manứih ơy 3 chu trực tiếp âng đơơng đợ apêê p’niên chô ooy vel đông, t’coóh A Dam, bêl ahay nắc bí thư chr’val Tu Mơ Rông, chr’hoong Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum dzợ hay cơnh ahay đợ apêê p’niên oom oóch, xập đợ xa’nập zir. Apêê k’tứi bhlâng, hadợ c’lâng chô ooy vel đông ch’ngai, bom đạn nặc zâp bêl cung p’jroọ bấc:

Truíh c’lâng lướt apêê p’niên cắh choom lướt nắc lêy bhặ cậ. bêl lướt truíh c’lâng k’rang bhlâng, tu bấc apêê đhưr bhlâng, tu mamung tơợ bêl pachô c’moo 1972 tước bêl lướt pay đơơng chô nắc apêê ơy đhưr. 2, 3 apêê a’châu truíh c’lâng nắc chêết, lêy tập luôn. Bêl đêếc azi k’rang cắh năl ha mơ p’niên chêết, ha mơ ma mung đoọng đơơng chô đhanuôr băn.

Cắh n’niên váih cóh vel bhươl nâu, hân đhơ cơnh đêếc, Sơn, Hùng nắc dưr pậ đhị vel nâu, ooy râu k’đhơợng zư, băn par âng đợ apêê k’căn k’conh manứih Xê Đăng liêm ta’níh. Cắh mưy cơnh đêếc, đợ apêê k’căn k’conh hân đhơ t’coóh đhưr nắc cung t’bhlâng bhrợ têng, t’bơơn pr’dzăm ch’na, cắh ha mơ lơi jợ k’coon. T’coóh A Dam moon:

Vêy ngai tr’zêệng pay băn zư, pay băn hadợ cắh râu đoọng cha, hân đhơ cơnh đêếc, mưy bhui har nặc choom ặ.

Nắc mưy ooy đợ pr’loọng đông pay băn đợ apêê p’niên cắh pr’đoọng bêl đêếc ahay, t’coóh Y Danh xoọc đâu dzợ hay k’noọ liêm gít, dzung t’coóh dzợ choom mặ lướt ha rêê, apêê k’coon âng t’coóh pay băn vêy ngai nắc ơy bil, đoo dzợ mamung nắc ơy bơơn k’diịc k’điêl, đoọng ha t’coóh đợ apêê cha’châu laliêm:

Bêl đêếc ahay acu cắh váih k’coon, pay băn 6 p’nong k’coon acoon cóh, 3 p’nong acoon kinh. Azi nha’nhêr bhlâng pêê đoo, cắh vêy chấc moon, chấc vay, lướt bhrợ ha’rêê t’bơơn cha’nêếh, a’rong băn apêê. Hân đhơ zr’nắh cung t’bhlâng băn zư.

Râu chắp nhêr âng k’căn k’conh lâng đợ apêê k’coon, hân đhơ nắc acoon cóh n’đoo, cóh dading k’coong cắh cậ cóh đồng bằng nắc cung tr’cơnh. Vêy bêl râu tr’kiêng nâu nắc cắh kiêng đoọng k’coon lướt mứt, chêết bil, cơnh nắc âng t’coóh Y Tiên.

Pr’đoọng dzợ vêy k’căn k’conh, bêl pachô k’tiếc k’ruung têêm ngăn, k’căn Y Tiên nắc bấc chu lướt ooy vel Đăk Chum 1 rơơm kiêng bơơn pay k’coon n’đil lướt bil bấc c’moo chô ắt pazưm lâng pr’loọng đông, hân đhơ cơnh đêếc, cắh ha bêl pân’đil Tiên nâu bơơn lưm k’căn. Ting ặt cơnh đêếc, tước bêl Tiên 16 c’moo, k’căn k’conh pay băn zư ađoo chấc lêy cóh vel đha’đhâm k’rơ zay đoọng pay Tiên, đoọng Tiên nắc k’coon n’đil âng nhi đoo, nắc váih manứih Xê Đăng luôn, lâng nắc ting prá xay p’rá Xê Đăng thôi:

Bêl p’niên k’căn k’conh vêy lướt pay hân đhơ cơnh đêếc, k’căn k’conh nuôi âng cu cắh đoọng chô, k’pân bil k’coon nắc âng đơơng lướt mứt p’lơớp cóh ha’rêê. Xang nặc dưr pậ pay k’diịc. xoọc đâu ắt cóh đâu cắh lướt ha ooy dzợ.

Dưr pậ lâng a’rong, clang, a’băng crâng, a’xiu tâm, lâng đác acoon tâm, búah n’dza, lâng đợ bhiệc bhan âng vel bhươl… đợ apêê p’niên oom oóch, vel bhươl cóh lơơng nắc dưr váih mr’đoo vel bhươl, prá zr’nưm 1 p’rá acoon cóh. Tu cơnh đâu, xang t’ngay pachô vel bhươl, bấc apêê p’niên hân đhơ bơơn đhi noo bhúh xoọng lướt pay pachô nắc cung cắh choom lướt glúh đắh vel, hân đhơ cóh vel đông dzợ bấc zr’nắh k’đhạp.

Bơơn pay băn zư lâng râu chắp kiêng, đợ apêê k’coon nuôi âng vel xoọc đâu nắc dưr váih đợ apêê t’coóh đhưr lâng đợ đhanuôr gương mẫu. t’coóh Y Sơn xoọc đâu nắc chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự chr’val Tu Mơ Rông, t’coóh Y Tiên nắc pr’loọng bhrợ têng cha choom âng vel Đăk Chum 1… cắh ngai vêy năl k’noọ, hadang bêl đêếc ahay đhanuôr cắh zooi zúp, pay băn zư nắc đợ apêê p’niên nâu dzợ mamung tước xoọc đâu?

Bêl đêếc, đhanuôr hêê zr’nắh k’đhạp cắh vêy râu cha. Vêy ngai pr’loọng nắc vêy 1 cha’nặc, vêy ngai nắc 2 cha’nặc, vêy ngai nặc 3, pay băn zư bhui har, xung phong bhlâng.

Nắc râu xay moon âng t’coóh A Dam.

Xa’nay t’ruíh ooy đợ apêê k’coon ta pay băn zư âng vel bhươl nắc xa’nay t’ruíh liêm chr’nắp bhlâng. Cung tơợ đợ xa’nay t’ruíh nâu, loom luônh liêm chr’nắp lâng cách mạng âng đhanuôr Xê Đăng ting t’ngay ting p’cắh liêm gít. Đhanuôr hân đhơ ắt mamung zr’nắh k’đhạp nắc cung mưy loom ting đảng, bhiệc n’hâu đảng kiêng, đảng pazao đoọng nắc đhanuôr zêng bhrợ lứch ađay, đh’rứah bhrợ mưy cơnh liêm chr’nắp bhlâng./.

 

  NHỮNG ĐỨA CON CỦA LÀNG

Mất mát, thương đau, tao loạn…là những gì mà bất kể cuộc chiến nào đi qua cũng để lại. Bên cạnh cuộc chiến ấy, vẫn có những câu chuyện cảm động, thấm đẫm tình người. Đó là câu chuyện về những đứa trẻ người Kinh mất cha, mất mẹ, li tán người thân được đồng bào Xê Đăng nhận nuôi dưỡng dù họ trong cảnh đói ăn, thiếu mặc. Chúng ta cùng nghe Phóng sự tham dự Liên hoan phát thanh toàn quốc 2016 của Đài PTTH Kon Tu

........ Đêm 25/5/1972, cái đêm kinh hoàng, cái đêm mà quân Mỹ - Ngụy đã ném bom xuống nhà thờ Kon Hring, nay thuộc xã Diên Bình, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum cướp đi sinh mạng của hơn 500 thường dân vô tội - cũng là đêm mà ông A Hùng đã mất đi cha mẹ ruột của mình. Vậy là trong 1 đêm, ông cùng hàng chục đứa trẻ khác đã trở thành trẻ mồ côi, không nhà, không cửa.

May mắn thay khi những đứa trẻ vô tội ấy đã được những người của cách mạng đưa vào vùng hậu cứ Tu Mơ Rông, nay là huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Tại đây, những đứa trẻ này đã được đồng bào Xê Đăng nhận về nuôi dưỡng, đùm bọc.

Ông Hùng được gia đình ông A Tăng, bà Y Lan ở làng Đăk Chum 1, xã Tu Mơ Rông nhận nuôi dưỡng dù ông bà cũng đã có 3 người con. Cái tên A Hùng được cha mẹ nuôi đặt cho và cái tên ấy đã theo ông cho đến tận bây giờ:

Thời đó biết cha mẹ mất rồi, không có người nuôi chắc cũng mất đi, không có gì ăn, ăn củ mì, bắp, bo bo…

Năm 1972, khi ba mẹ chết trong 1 trận ném bom của giặc, cậu bé Sơn cùng hai người em được bà con nhận nuôi. Người con trai duy nhất trong gia đình cha mẹ nuôi hi sinh, Sơn mặc nhiên trở thành con trai cả của gia đình, được đặt tên là A Sơn và được cưng chiều nhất trong số 5 chị em. Nhắc về người cha nuôi quá cố của mình, ông trải lòng với tất cả sự thương yêu, nhung nhớ:

Bố chú là liên lạc khu, ổng đi liên lạc dắt chú theo, ông đi trước chú chạy theo sau. Chỗ nào mà dốc, hơn nữa máy bay dí, bom thả thì khóc ông chạy tới cõng. Đi rừng đi bẫy chuột, đi tìm kiếm thú rừng về cải thiện thêm, dạy thổi lá, kêu con mang, kêu con trĩ, kêu con chồn.

Là người đã ba lần trực tiếp dẫn những đứa trẻ ly loạn ngày ấy về làng, già A Dam nguyên Bí thư xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum vẫn nhớ như in hình ảnh những cô bé, cậu bé gày còm, gương mặt ngơ ngác, thất thần trong những bộ đồ rách bươm. Chúng nhỏ quá, yếu quá mà đường về làng lại xa quá, bom đạn thì mỗi lúc nhiều hơn, gần hơn:

Trên đường đi mấy đứa nhỏ không đi được mình phải cõng. Khi đi trên đường rất lo đa số ốm yếu vì sống mấy ngày từ khi giải phóng năm 1972 cho đến khi mình đi lấy về mấy cháu đã ốm yếu, một số cháu trên đường đi chết, phải chôn. Lúc đó chúng tôi băn khoăn không biết bao nhiêu đứa chết, bao nhiêu đứa sống đem về đến nơi cho bà con dân làng để  nuôi.

Không sinh ra ở làng, nhưng những cậu bé Sơn, Hùng…lại lớn lên ở làng, trong vòng tay của những ông bố, bà mẹ Xê Đăng cùng cực mà tình thương thì nhiều như lá cây rừng. Chẳng thế mà những ông bố, bà mẹ ấy dù phải làm lụng vất vả gấp đôi, gấp ba, dù cái chân phải trèo nhiều dốc, cái lưng phải gùi nặng thêm, bữa ăn có lúc chỉ là lá cây rừng nhưng nhất quyết không chịu bỏ đứa con nào. Già A Dam kể:

Có người giành nhau ai cũng muốn nuôi, nuôi không có gì ăn nhưng vui vẻ nuôi thôi.

Là 1 trong những gia đình nhận nuôi những đứa trẻ bất hạnh khi ấy, bà Y Danh giờ vẫn còn khá minh mẫn, cái chân bà vẫn có thể lên nương lên rẫy, các con nuôi của bà có đứa đã mất, đứa còn sống cũng đã lập gia đình và cho bà những đứa cháu nội, cháu ngoại:

Hồi đó ông bà già không có con, nhận nuôi 6 đứa trẻ con đồng bào, 3 đứa người Kinh nè. Ông già thương tụi nó lắm, không la không đánh bao giờ đâu, cứ đi làm rẫy để lấy gạo, củ mì nuôi mấy đứa. Khổ cũng ráng nuôi).

Tình thương của cha mẹ với con cái, dù là dân tộc nào, miền xuôi hay miền ngược có lẽ cũng như nhau. Có khi tình yêu ấy trở nên cực đoan, ích kỉ bởi chẳng cha mẹ nào muốn để con cái phải xa mình dù đứa con ấy mình có không dứt ruột đẻ ra đi chăng nữa, như trường hợp của bà Y Tiên.

May mắn còn cha mẹ ruột, hòa bình, mẹ bà Y Tiên đã nhiều lần vào tận làng Đăk Chum 1 mong được nhận lại đứa con gái thất lạc bấy lâu về đoàn tụ với gia đình nhưng, chưa bao giờ cô bé Tiên được gặp mẹ. Cứ thế, cho đến năm Tiên tròn 16 tuổi, cha mẹ nuôi liền tìm trong làng chàng thanh niên khỏe mạnh để gả cho Tiên, để Tiên mãi mãi là con gái của ông bà, mãi là người Xê Đăng, và mãi chỉ biết nói tiếng Xê Đăng mà thôi:

Hồi nhỏ ba mẹ ruột có lên đón nhưng ba mẹ nuôi không muốn cho về, sợ mất con nên dẫn vào nương rẫy trốn. Sau đó thì lớn lên, lấy chồng. Giờ hai vợ chồng có ruộng, rẫy, cà phê, bời lời, con cái ổn định. Giờ thì ở đây thôi, không muốn đi đâu nữa.

Lớn lên bằng củ sắn, củ khoai, bằng măng rừng, cá suối, bằng nước suối, rượu cần, bằng những lễ hội của làng…những đứa trẻ gốc gác, quê hương khác nhau trở thành người một làng, nói chung 1 thứ tiếng – tiếng nói của tình người. Bởi vậy mà, sau ngày quê hương giải phóng, nhiều đứa trẻ dù được người thân nhận lại nhưng vẫn không thể đi khỏi làng, vẫn trở lại làng dù cuộc sống ở làng chưa bao giờ hết khốn khó.

Được nuôi dưỡng bằng tình thương, những đứa con nuôi của làng nay đã trở thành ông, thành bà và là những công dân gương mẫu. Ông A Sơn hiện là Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự xã Tu Mơ Rông, bà Y Tiên là hộ sản xuất giỏi của làng Đăk Chum 1…Chẳng ai có thể hình dung được, nếu ngày ấy bà con không mở rộng vòng tay, những đứa trẻ ấy liệu có còn sống ở trên đời?

Hồi đó, dân mình rất khổ không có gì ăn. Có hộ thì 1 đứa, có hộ thì 2 đứa, có hộ tối đa là 3 đứa, nhận nuôi và vui vẻ, xung phong chứ.

Đó là tâm sự của già A Dam.

Câu chuyện về những đứa con nuôi của làng là câu chuyện nhân văn bên lề cuộc chiến tranh ác liệt. Cũng từ những câu chuyện này, tấm lòng một lòng sắt son với cách mạng của đồng bào Xê Đăng càng được minh chứng rõ. Đồng bào dù trong hoàn cảnh nào vẫn một lòng đi theo Đảng; việc gì Đảng cần, Đảng giao phó bà con đều làm hết mình, làm đến cùng, làm một cách chân thành và đầy tình người./.       

                                           (Bài hát: Chung dòng sữa Mẹ)      

           

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC