Cr’chăl âng đha’rứt lâng k’van, pác moon xã hội ting t’ngay ting bhứah, nắc đoo 1 ooy 4 đhr’năng âng đảng hêê ơy xay moon gít ooy dự thảo văn kiện xay moon đhị đại hội 12 âng đảng. zâp đông lêy cha’mêết, zâp chuyên gia xay moon, đảng hêê nắc ơy liêm gít lêy cha’mêết lâng năl đợc l’lăm đợ đhr’năng lalay âng đha’rứt lâng k’van, phân hoá xã hội lâng râu padưr pa’xớc liêm nhâm âng k’tiếc k’ruung. Tu cơnh đâu, nắc lêy vêy đợ c’lâng bh’rợ liêm crêê đoọng paliêm bhrợ padưr, liêm ma mơ mr’cơnh xã hội.
Ting cơnh zâp đông lêy cha’mêết xã hội học, tơợ bêl bhrợ têng xăl t’mêê, moót ooy bh’rợ kinh tế thị trường lêy chô xã hội chủ nghĩa, k’tiếc k’ruung hêê ơy bơơn bấc bh’nơơn liêm choom. Hân đhơ cơnh đêếc, bơơn bhrợ bấc nắc pazưm mưy đhị zr’lụ, c’bhúh a’năm. Xoọc đâu prang k’tiếc k’ruung dzợ vêy 64 chr’hoong vêy đợ mơ pr’loọng đha’rứt bơơn lấh 50% lâng thu nhập vêy k’noọ 220 đôla Mỹ, ma mơ lâng k’noọ 5 ực đồng 1 cha’nặc đhị 1 c’moo. Cr’chăl đợ xay xơ lâng đợ xe k’zệt tỷ đồng, nắc dzợ bấc apêê ắt mamung zr’nắh k’đhạp, avị cha cắh váih, cắh ma zên zư lêy đh’réh cr’ay… tơợ râu lalua cắh têêm ngăn đhị 2, 3 k’tiếc k’ruung, GS.TS Phạm Xuân Nam, bêl ahay nắc viện trưởng viện Hàn lâm khoa học xã hội VN moon:
Bêl phân hoá đha’rứt k’van, tr’zêệng đắh quyền lợi gung dưr nắc apêê bhrợ t’váih cắh liêm crêê cóh xã hội. ơy cắh têêm ngăn xã hội nắc bhrợ cắh liêm tước chính trị, kinh tế.
Pr’loọng đha’rứt, manứih đha’rứt, lấh mơ nắc pazưm đhị zâp zr’lụ dading k’coong, zr’lụ ch’ngai bha’dắh, pr’đơợ ắt mamung bấc zr’nắh k’đhạp, đhị zâp pr’loọng cắh váih c’năl bh’rợ liêm choom, cắh cậ c’năl bh’rợ đệ. Bhrợ padưr paliêm râu cắh liêm choom nâu, bấc c’moo nua, đảng nhà nước nắc ơy vêy bấc c’lâng xa’nay chính sách pr’ắt tr’mung xã hội, zooi zúp pr’loọng đha’rứt đoọng pa’đệ bhlưa đha’rứt k’van. Đợ mơ pr’loọng đha’rứt đhị zâp chr’hoong đha’rứt nắc ơy pa’xiêr 5% đhị 1 c’moo. Hân đhơ cơnh đêếc, đhr’năng chô đha’rứt cớ dzợ dal, tu pr’ắt tr’mung âng đhanuôr cắh ơy liêm nhâm. Đhị ắt mamung dading k’coong, pr’đơợ bhrợ têng ha’rêê ruộng lưm bấc zr’nắh k’đhạp, c’lâng c’tốch đhị zâp vel đông cắh liêm buôn, padưr pa’xớc thương mại, dịch vụ cung cắh liêm dal, cắh ơy t’pấh đông k’rong bhrợ. Thạc sĩ xã hội học Ohạm Thị Thuý, giảng viên học viện hành chính quốc gia đoọng năl, nắc lêy vêy đợ chính sách k’rong bhrợ đoọng pa’đệ bhlưa đha’rứt k’van zâp đhị zr’lụ:
Đhanuôr acoon cóh k’noọ m’pâng ooy đợ apêê đha’rứt cóh prang k’tiếc k’ruung, pa’đhang moon cơnh c’moo 2012 zâp chr’val ooy diện xa’nay bh’rợ 135, đợ mơ pr’loọng đông đha’rứt lấh 40%, tu cơnh đâu ahêê nắc lêy k’rong bhrợ tước đhị zr’lụ k’coong ch’ngai bấc lấh, bhrợ têng pr’đơợ đắh bhrợ têng cha, zr’lụ công nghiệp, nhà nước nắc lêy vêy đợ chính sách t’đui đoọng ha đợ doanh nghiệp k’rong bhrợ đoọng padưr pa’xớc đợ đhị zr’lụ k’coong ch’ngai nắc vêy choom váih bhiệc bhrợ padưr paliêm pr’ắt tr’mung.
Cắh mưy năl gít bhiệc pa’đệ bhlưa đha’rứt k’van, phân hoá nâu đoo nắc 1 ooy 4 đhr’năng bhrợ cắh liêm crêê, dự thảo văn kiện chính trị xay moon ooy đại hội 12 âng đảng dzợ moon pa’glúh đhr’năng bh’rợ nâu. Ting đêếc, dự thảo văn kiện vêy mưy mục t’mêê đắh k’đhơợng zư padưr pa’xớc xã hội, bhrợ têng tiến bộ, liêm ma mơ xã hội. ooy đâu nắc ơy xay moon bh’rợ liêm choom, pazêng: bhrợ pr’đơợ đoọng zâp ngai vêy bhiệc bhrợ lâng têêm ngăn pr’ắt tr’mung. Têêm ngăn zên lương, bơơn bhrợ liêm ma mơ, zâp pr’đơợ ắt mamung lâng padưr c’rơ bh’rợ. ting cơnh t’coÓh Bùi Sỹ Lợi, phó chủ nhiệm UB zâp đắh bhiệc xã hội âng quốc hội, đoọng bhrợ choom bhiệc nâu nắc t’bhlâng bhrợ paliêm pháp luật lâng chính sách xã hội, lêy chô bhrợ padưr 1 hệ thống pr’ắt tr’mung xã hội liêm glặp lâng cr’chăl padưr pa’xớc kinh tế xã hội, têêm ngăn quyền lợi lâng apêê buôn lưm bhrêy tắh. pr’ắt tr’mung xã hội nắc pazêng 4 bh’rợ bha’lâng đắh zêl cha’groong râu cắh liêm crêê, pa’xiêr râu cắh liêm crêê, bhrợ paliêm đợ râu cắh liêm crêê lâng dịch vụ xã hội cơ bản. ooy đâu, ting cơnh t’coóh Bùi Sỹ Lợi, 1 bh’rợ bha’lâng nắc zêl cha’groong râu cắh pr’đoọng liêm crêê:
Kiêng vêy bhiệc bhrợ nắc lêy pachoom bh’rợ tr’nêng. Nhà nước nắc lêy zooi zúp đoọng vặ zên bhrợ pr’đơợ đoọng padưr pa’xớc bh’rợ tr’nêng, oó dodộng cắh váih bhiệc bhrợ, bil thu nhập lâng pr’ắt tr’mung zr’nắh k’đhạp. kiêng bhrợ têng bhiệc liêm choom, bhiệc chr’nắp nắc lêy zooi zúp tín dụng, zooi zúp pachoom bh’rợ tr’nêng, zooi zúp apêê chấc lêy bhiệc bhrợ lâng bhrợ ha cơnh vêy xa’nay bh’rợ bhrợ têng zúp manứih đha’rứt cóh vel đông bhrợ têng bhiệc bhrợ nâu đoọng zêl cha’groong râu cắh liêm crêê.
Zâp chuyên gia cung moon, pa’đệ bhlưa đha’rứt k’van, têêm ngăn liêm ma mơ xã hội nắc đoo tơơm ríah đoọng padưr pa’xớc xã hội liêm nhâm. Ting đêếc, nắc lêy bhrợ padưr, bhrợ têng zâp chính sách liêm glặp lâng zâp lang xã hội, vêy zâp c’lâng bh’rợ liêm choom bhrợ têng. Ooy bhrợ padưr lâng bhrợ têng zâp chính sách padưr pa’xớc kinh tế xã hội, k’rang lêy liêm chr’nắp tước zâp lang đhanuôr, đhuôr acoon cóh k’coong ch’ngai, bhrợ padưr paliêm bhlưa đha’rứt k’van, têêm ngăn padưr pa’xớc xã hội liêm nhâm nắc đoo pr’đơợ đoọng padưr pa’xớc k’tiếc k’ruung đấh lâng liêm nhâm./.
DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI 12 CỦA ĐẢNG ĐÃ NHẬN DIỆN, LƯỜNG TRƯỚC NHỮNG NGUY CƠ CỦA PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO
“Khoảng cách giàu - nghèo, phân hoá xã hội ngày càng tăng” là một trong bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ rõ trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội 12 của Đảng. Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia nhận định, Đảng ta đã sáng suốt nhận diện rõ và lường trước những nguy cơ của sự chênh lệch giàu nghèo, phân hóa xã hội đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy cần có những chủ trương chính sách đúng để điều chỉnh, khắc phục nhằm từng bước thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Theo các nhà nghiên cứu xã hội học, từ khi thực hiện đổi mới, bước sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu ấn tượng. Tuy nhiên, thu nhập cao lại chỉ tập trung ở từng khu vực, từng nhóm đối tượng. Hiện cả nước vẫn còn 64 huyện có tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 50%, với thu nhập chỉ gần 220 đô-la Mỹ, tương đương với gần 4,8 triệu đồng/người/năm. Bên cạnh những đám cưới siêu sang với dàn xe hàng chục tỷ đồng, vẫn còn không ít những người sống trong hoàn cảnh khó khăn, cơm không đủ ăn, không có tiền chữa bệnh… Từ thực tiễn mất ổn định ở một số quốc gia, GS.TS Phạm Xuân
“Khi đã phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn về quyền lợi thúc đẩy người ta sẽ đẻ ra không ổn định xã hội. Đã không ổn định xã hội ảnh hưởng đến cả chính trị, kinh tế nữa.”
Hộ nghèo, người nghèo, chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện tự nhiên, xã hội nhiều khó khăn, ở các hộ không có trình độ, tay nghề, hoặc trình độ tay nghề, học vấn thấp. Khắc phục những tồn tại này, những năm qua, Đảng Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ hộ nghèo nhằm rút ngắn dần khoảng cách. Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo đã giảm bình quân 5% /năm. Tuy nhiên nguy cơ tái nghèo còn cao do sinh kế của người dân chưa thật bền vững. Địa hình miền núi, điều kiện sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, giao thông ở các bản làng chưa thuận tiện, phát triển thương mại, dịch vụ thấp, chưa thu hút được nhà đầu tư. Thạc sỹ Xã hội học Phạm Thị Thúy, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia cho rằng cần có chính sách đầu tư để rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền:
“Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 50% số nghèo trong cả nước, ví dụ năm 2012 các xã trong diện chương trình 135, tỷ lệ hộ nghèo ở mức trên 40%, chính vì thế chúng ta cần phải đầu tư đến vùng sâu vùng xa nhiều hơn, cơ sở hạ tầng ở đó rồi những điều kiện về sản xuất nông nghiệp, khu công nghiệp, có thể nhà nước phải có những chính sách ưu tiên cho những doanh nghiệp đầu tư để phát triển ở những vùng sâu, vùng xa thì mới có cơ hội việc làm cải thiện đời sống.”
Không chỉ xác định gia tăng khoảng cách phân hóa giàu nghèo là một trong bốn nguy cơ, Dự thảo văn kiện chính trị trình Đại hội 12 của Đảng còn đề ra chủ trương hạn chế tình trạng này. Theo đó, Dự thảo văn kiện có một mục hoàn toàn mới “về quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Trong đó đã nêu nhiệm vụ cơ bản gồm: Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Theo ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, để làm được điều đó, trước hết nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật và chính sách xã hội, tiến tới xây dựng một hệ thống an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng dễ bị tổn thương, đối tượng rủi ro. Hệ thống an sinh xã hội sẽ gồm 4 trụ cột cơ bản về phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro và dịch vụ xã hội cơ bản. Trong đó, theo ông Bùi Sỹ Lợi, một trụ cột quan trọng là phòng ngừa rủi ro:
“ Muốn có việc làm thì phải được học nghề. Nhà nước phải hỗ trợ cho vay vốn tạo các điều kiện để phát triển sản xuất để không rơi vào tình cảnh không có việc làm, mất thu nhập và cuộc sống khó khăn. Muốn giải quyết được việc làm vấn đề quan trọng đầu tiên là tạo việc làm thì phải hỗ trợ về tín dụng, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ người ta tìm việc làm và làm sao có chương trình việc làm công để giúp người nghèo ở địa phương giải quyết việc làm này để phòng ngừa rủi ro.”
Các chuyên gia cũng cho rằng rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội là gốc rễ để phát triển xã hội bền vững. Theo đó cần xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những bức xúc, mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột trong xã hội. Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, bảo đảm sự ổn định, phát triển xã hội bền vững là nền tảng để phát triển đất nước nhanh và bền vững./.
Viết bình luận