Quyền zư lêy chr’năp văn hoá ma nuyh acoon coh
Thứ sáu, 00:00, 17/07/2020
K’tiếc k’ruung Việt Nam hêê vêy 54 k’bhuh acoon coh a đhi noo ặt ma mông. Zập k’bhuh vêy muy chr’năp văn hoá lalay bhrợ vaih chr’năp văn hoá bấc rau bấc cơnh ha dợ za zưm nắc âng k’bhuh ma nuyh Việt Nam. Chr’năp acoon coh nắc c’rơ ặt ma mông, nắc thẻ căn cước pa căh muy cơnh zập zêng bhlầng rau dưr vaih âng zập acoon coh đhị đhr’năng pa tệêt pa zưm. Prang bha lang k’tiếc xoọc ha dưr liêm, zêl lơi rau cha groong bhlưa apêê k’tiếc k’rung, k’bhuh acoon coh lâng t’vaih pr’đợơ giao lưu văn hoá k’rơ liêm lâh mơ lơơng. Ha dợ, a đoo cung nắc bhrợ t’vaih c’rơ zư lêy pazêng chr’năp lalay ơy vêy âng zập pr’đợơ văn hoá. Ma nuyh Việt Nam cung nắc cơnh đếêc.

 

       Pazêng c’moo hay, Đảng, Nhà nước Việt Nam lêy ghit bhlầng chính sách acoon coh, pa bhlầng nắc tệêm ngăn quyền zư lêy chr’năp văn hoá âng k’bhuh acoon coh. Bấc bộ luật, điều luật ơy bơơn Nhà nước pa căh đoọng bhrợ têng ghit quyền acoon manuyh (zêng lâng k’bhuh acoon coh vêy m’bứi ma nuyh). Nâu đoo nắc pr’đợơ pháp lý đoọng ha bh’rợ zư lêy chr’năp văn hoá âng zập k’bhuh acoon coh. M’jưah lâng đếêc, Nhà nước cung pa căh ta luôn apêê chính sách, bh’rợ zup zooi đoọng t’vâih pr’đợơ đoọng ha đhanuôr zập k’bhuh acoon coh pa dưr dal pr’ặt tr’mông zêng đăh văn hoá cr’van cr’bhô lâng văn hoá cr’nọo pr’chăp. PGS.TS Lê Ngọc Thắng, bêl a hay nắc bhrợ Viện trưởng Viện Dân tộc học-Ủy ban Dân tộc Quốc hội xay moon: “Choom moon, tợơ lâh Nghị quyết TƯ 5 khoá 8 c’moo 1998 tước nâu kêi lâng Nghị quyết 33 hội nghị TƯ 9 khoá 11 t’mêê đâu nắc bh’rợ zư lêy chr’năp văn hoá nắc muy c’lâng xa nay chr’năp ga mắc pa bhlầng âng Đảng hêê coh cr’chăl ặt zr’ziêng lâng bấc  k’tiếc k’ruung lơơng. Nắc rau đoọng a hêê h’lị lêy cớ, cha mệêt cớ lâng cung tợơ đếêc nắc a hêê lêy vêy bấc k’bhuh chính sách đh’rưah lâng pa dưr đăh tr’mông tr’meh nắc dzợ vêy bấc apêê c’lâng bh’rợ âng k’tiếc k’ruung đăh văn hoá chroi k’rong đhị zư lêy chr’năp văn hoá âng k’bhuh apêê acoon coh.”

      Coh bha ar xrặ “Zư lêy, pa dưr chr’năp văn hoá k’bhuh apêê acoon coh đhị cr’chăl xay bhrợ đh’rưah lâng k’tiếc k’ruung lơơng” bơơn pa căh bêl c’xêê 4/2019, coh trang web: https://www.qđn.vn/ pa căn Nguyễn Thị Hải Nhung, Vụ trưởng Vụ Văn hoá dân tộc, Bộ Văn hoá, Thể thao lâng Du lịch đoọng năl: N’đhơ  bh’rợ zư lêy, pa dưr chr’năp văn hoá k’bhuh apêê acoon coh, pa bhlầng nắc đhanuôr acoon coh m’bứi ma nuyh bơơn Đảng, Nhà nước lâng đhanuôr prang k’tiếc k’ruung k’rang tước, bhrợ têng. Đhơ cơnh đếêc, bh’rợ nâu dzợ ặt rau căh ơy liêm. Coh đếêc, choom dap tước bhiệc ahêê căh ơy vêy muy luật lalay đăh bh’rợ acoon coh đoọng bhrợ têng pa ghit apêê xa nay âng Đảng, bhrợ pr’đợơ pháp lý pa liêm pa xoọng chính sách đăh văn hoá k’bhuh apêê acoon coh. Bấc rau chính sách đăh văn hoá bêl bơơn xay bhrợ dzợ n’leh cr’noọ pr’chăp k’dâng lêy bhlưa apêê k’bhuh acoon coh, bhrợ vaih đhr’năng zư lêy lưm bấc rau k’đhap k’ra. Nắc đoo cung muy coh pazêng rau bhrợ bấc cr’noọ bh’rợ, đề án đăh zư lêy lâng pa dưr apêê chr’năp văn hoá ty đanh âng zập k’bhuh acoon coh bơơn bhrợ pa dưr lâng đoọng bhrợ ha dợ căh vêy zên bạc lalay, tu cơnh đếêc xay bhrợ k’đhap pa bhlầng, nắc lêy bhrợ têng pa zưm ooy zên bạc bh’rợ lơơng đhị zập c’moo âng đơn vị, căh cợ k’rong bhrợ căh ơy zập cơnh kiêng đươi dua cơnh lâng đhr’năng lalua. Bh’rợ xã hội hoá apêê bh’rợ văn hoá acoon coh đhị vel đong, zr’lụ chr’hoong da ding ca coong lâng k’bhuh acoon coh m’bứi ma nuyh zr’năh k’đhap pa bhlầng, zêng căh vêy.

       M’jưah lâng đếêc, đhr’năng công nghiệp t’mêê, đô thị t’mêê cung bhrợ đoọng ha đhr’năng văn hoá, đhr’năng ặt ma mông âng bấc k’bhuh acoon coh crêê pa hệêp, căh zập k’tiếc đoọng bhrợ têng cha, ting c’lâng ặt đhậu coh crâng da ding, zr’lụ ch’ngai bha dăh. Pa bhlầng, tr’lưm tr’lêy, pa tệêt pa dưr văn hoá dưr vaih đâh lâng k’rơ bhlầng bhrợ ha bhiệc zư lêy apêê chr’năp c’kir văn hoá căh ơy đâh loon, căh ơy crêê cơnh c’lâng xa nay, đhr’năng đươi dua văn hoá t’mêê ha dợ căh pa ghit nắc bhrợ văn hoá ty đanh âng zập k’bhuh acoon coh bil pât r’dợ.

      Ting cơnh pa căn Nguyễn Thị Hải Nhung, muy coh pazêng rau bhrợ vaih đhr’năng nắc đoo nắc dáp tước rau căh ma mơ mr’cơnh đăh c’năl bhriêl choom bhlưa zr’lụ đhanuôr acoon coh m’bứi ma nuyh lâng da ding ca coong cơnh lâng apêê zr’lụ lơơng coh prang k’tiếc k’ruung ting t’ngay ting c’lâng k’rơ bấc lâh mơ; bh’rợ zư lêy pa dưr apêê chr’năp văn hoá âng zập k’bhuh acoon coh đhị đhr’năng lalua căh ơy ta lêy chăp muy cơnh ta nih đha nâng, lâng k’rong bhrợ têng căh tr’tướt. Căh ơy bhrợ têng liêm cơnh kiêng k’đươi; apêê vel đong zr’lụ đhanuôr acoon coh ặt ma mông dzợ đha rựt, vel đong pậ bhưah, đhanuôr ặt tuông, bấc đoo k’bhuh acoon coh ặt tr’luúc đh’rưah, đh’riêng p’rá, j’niêng cr’bưn căh vêy mr’cơnh, c’năl bhriêl choom căh ma mơ mr’cơnh; chr’năp văn hoá ty đanh âng bấc k’bhuh acoon coh ặt đhị đhr’năng bil pất, tr’xăl cơnh lơơng căh dzợ cơnh ty đanh. Bấc chr’năp văn hoá laliêm âng đhanuôr acoon coh căh ơy ta zư lêy lâng pa dưr crêê cơnh; bh’rợ pa dưr pazêng chr’năp t’mêê dzợ đhưr căh ơy k’rơ liêm, căh ơy nhâm mâng…

      Tợơ đếêc, pa căn Hải Nhung k’đươi moon nắc lêy vêy c’lâng bh’rợ nhâm mâng đoọng bhrợ têng liêm choom lâh mơ bh’rợ zư lêy lâng pa dưr apêê chr’năp văn hoá ty đanh zr’lụ đhanuôr acoon coh. Lalăm nắc xăl t’mêê k’bhuh chính sách đăh văn hoá acoon coh ting cơnh c’lâng liêm choom, đh’rưah, đanh mâng. Coh pr’đơợ xoọc đâu, nắc lêy pa căh apêê chính sách ghit bhlầng, k’rong ooy bh’rợ zư lêy apêê chr’năp văn hoá ty đanh. T’bhlầng c’rơ k’rong bhrợ têng đoọng zup zooi ha vel đong da ding ca coong pa dưr, bhrợ pa liêm chr’năp văn hoá crêê cơnh lâng  văn hoá ty đanh âng zập k’bhuh acoon coh. Zup zooi zư đớc boóp p’rá, chữ xrặ âng apêê k’bhuh acoon coh tợơ bh’rợ pa choom p’rá, chữ xrặ âng đhanuôr acoon coh đoọng ha pêê cán bộ, công chức, viên chức xoọc pa bhrợ đhị zr’lụ ch’ngai bha dăh, zr’lụ đhanuôr acoon coh ặt ma mông. Bhrợ pa dưr apêê cr’noọ bh’rợ văn hoá, văn nghệ bhlưa apêê k’bhuh acoon coh. Vêy chính sách crêê liêm lâng bh’rợ pa too pa choom, pa dưr dal bh’nơơn k’bhuh cán bộ bhrợ bh’rợ văn hoá.

      PGS.TS Lê NgọcThắng cung pa căh boóp p’rá đay nắc lêy vêy muy chính sách crêê liêm đoọng zư lêy, pa dưr apêê chr’năp văn hoá âng đhanuôr acoon coh, pa bhlầng nắc apêê k’bhuh acoon coh dứp 10.000 cha nắc. “Ava Hồ ơy moon, đăh Quốc hội, ơy vêy zập đại biểu nắc k’bhuh apêê acoon coh ha dợ đăh Chính phủ tợơ c’moo 1946 ava Hồ ơy moon vêy đong đhanuôr acoon coh đoọng k’rang pazêng apêê đhanuôr. Chính sách zước đoọng lalay, chính sách đoọng ơn lalay, chính sách k’rang lêy lalay. Moon tước chính sách k’rang lêy nắc lêy muy cơnh zập zêng, ting c’xêê c’moo. A đoo căh vêy ting nhiệm kỳ nắc a zi lêy cơnh lâng k’bhuh ma nuyh nâu pr’chăp đăh chính sách nắc muy coh pazêng rau chr’năp bhlầng. Nắc lêy k’rong apêê chuyên gia bhriêl choom, pazêng ma nuyh choom t’hước lêy lalăm đăh kinh tế, chính trị, tệêm ngăn quốc phòng nắc vêy choom hoạch định./.”

QUYỀN GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

                                                                                                Hải Huyền

Đất nước Việt Nam ta có 54 cộng đồng dân tộc anh em. Mỗi cộng đồng có một bản sắc riêng, độc đáo tạo nên nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất của dân tộc Việt Nam. Bản sắc dân tộc chính là sức sống nội sinh, là thẻ căn cước biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập. Toàn cầu hóa đang xóa nhòa những lằn ranh ngăn cách quốc gia, dân tộc và tạo điều kiện giao lưu văn hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Song, nó cũng đồng thời làm sản sinh nhu cầu bảo vệ những nét riêng có đặc biệt của mỗi nền văn hóa. Dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng chính sách dân  tộc, đặc biệt đảm bảo quyền giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS. Nhiều bộ luật, điều luật đã được Nhà nước đưa ra để làm rõ các quyền con người (gồm cả người dân các dân tộc ít người). Đây là cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng không ngừng đưa ra các chính sách, chương trình hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho người dân các dân tộc thiểu số nâng cao đời sống cả về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. PGS. TS Lê Ngọc Thắng, Nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc học - Ủy ban Dân tộc Quốc hội nhận định:“Có thể nói, từ sau Nghị quyết TƯ 5 khóa 8 năm 1998 đến nay và Nghị quyết 33 hội nghị TƯ 9 khóa 11 vừa rồi thì vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa là một cái định hướng rất quan trọng của Đảng ta trong thời kỳ hội nhập mở cửa. Đấy là cái cớ chúng ta nhìn lại, quan sát và cũng từ đó chúng ta thấy có rất nhiều hệ thống chính sách bên cạnh sự phát triển về kinh tế thì có rất nhiều các giải pháp, chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của các tộc người.

Trong bài viết“Bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thời kỳ hội nhập” được đăng tải hồi tháng 4/202019, trên trang web: https://www.qdnd.vn/ bà Nguyễn Thị Hải Nhung, Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: Mặc dù công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc, đặc biệt là các DTTS được Đảng, Nhà nước và cộng đồng quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn có những tồn tại. Trong đó, có thể kể đến việc chúng ta vẫn chưa có một luật riêng về công tác dân tộc để cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, làm căn cứ pháp lý điều chỉnh chính sách về vấn đề văn hóa các DTTS. Một số chính sách về văn hóa khi được triển khai còn xuất hiện tâm lý so sánh giữa các dân tộc với nhau dẫn đến công tác bảo tồn gặp không ít khó khăn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến một số chương trình, đề án về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc được xây dựng và phê duyệt nhưng không có kinh phí riêng nên triển khai khó khăn, phải thực hiện lồng ghép vào ngân sách sự nghiệp hằng năm của đơn vị, hoặc đầu tư chưa đáp ứng so với yêu cầu của thực tế. Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa dân tộc trên địa bàn vùng miền núi và DTTS rất khó khăn, gần như không có.

Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng làm cho không gian văn hóa, không gian sinh tồn của một số DTTS bị thu hẹp, thiếu đất sản xuất, có xu hướng lùi sâu vào vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, sự giao lưu, giao thoa văn hóa diễn ra nhanh, mạnh khiến cho việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa chưa kịp thời, chưa đúng hướng, việc tiếp thu văn hóa mới thiếu chọn lọc nên văn hóa truyền thống của từng dân tộc dần bị mai một.

Theo bà Nguyễn Thị Hải Nhung, một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên có thể kể đến sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng DTTS và miền núi với các khu vực khác trong cả nước ngày càng có xu hướng gia tăng; việc bảo tồn, phát triển giá trị văn hóa của các DTTS trong thực tế chưa thực sự được coi trọng đúng mức và đầu tư thỏa đáng, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; các địa phương vùng DTTS còn nghèo, địa bàn rộng, mật độ dân cư thưa và không tập trung, một số các dân tộc sống đan xen, tiếng nói, phong tục tập quán không giống nhau, trình độ dân trí phát triển không đều; giá trị văn hóa truyền thống của một số DTTS có nguy cơ bị mai một, biến dạng. Một số nét văn hóa tốt đẹp của đồng bào DTTS chưa được gìn giữ và phát huy đúng mức; việc phát triển những giá trị mới còn nhiều hạn chế, thiếu bền vững...

Từ đó, bà Hải Nhung đề xuất cần phải có giải pháp căn cơ để thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống vùng đồng bào DTTS. Trước hết là đổi mới hệ thống chính sách về văn hóa dân tộc theo hướng cơ bản, đồng bộ, lâu dài. Trong điều kiện hiện nay, cần ban hành các chính sách cụ thể tập trung vào lĩnh vực bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Tăng cường nguồn lực đầu tư để hỗ trợ cho địa bàn miền núi xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp với văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc. Hỗ trợ việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết của các DTTS thông qua dạy tiếng, chữ viết của các DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức công tác tại những vùng sâu, vùng xa, nơi có các DTTS cư trú. Xây dựng các chương trình, kế hoạch tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa các dân tộc. Có chính sách phù hợp với công tác đào tạo, tập huấn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa.

PGS.TS Lê Ngọc Thắng cũng bày tỏ cần có một chính sách thỏa đáng để giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc dưới 10.000 người. “Bác Hồ đã từng nói, về phía Quốc hội, đã có đầy đủ đại biểu thành phần các dân tộc nhưng về phía chính phủ từ năm 1946 Bác đã nói có nha dân tộc thiểu số để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Chính sách xin cho khác, chính sách ban ơn khác, chính sách săn sóc khác. Nói đến chính sách săn sóc là phải nhìn một cách toàn diện, dày công, phải có lộ trình. Nó không thể theo nhiệm kỳ, theo chính chất chộp giật mà chúng tôi cho rằng là đối với cộng đồng này tư duy về chính sách là một trong những nguyên nhân quan trọng. Cần phải tập hợp chuyên gia giỏi, những người có tầm nhìn về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng thì mới có thể hoạch định được.”./.

 

 

 

 

 

         

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

PODCAST/ VIDEO