T’cooh Lê Hữu Thắng, bêl ahay bhrợ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, Bêl ahay bhrợ uỷ viên UBND Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam chr’val Hải Thượng c’moo 1972 hay bhlâng cr’chăl lịch sử n’năc. Xoọc đêêc, zập ngai zêng bhui har pa bhlâng, tr’cuôl g’rooh. Tơợ đâu, lâh 85% đhăm k’tiêc âng tỉnh Quảng Trị pazêng vêy chr’hoong, thị xã n’đăh Bắc toor k’ruung Thạch Hãn lâng muy pâng k’tiêc âng chr’hoong Triệu Phong, thị xã Quảng Trị vêy ta giải phóng. K’ruung Thạch Hãn lâng zr’lụ giải phóng Triệu Phong, thị xã Quảng Trị vêy ta lêy năc c’noong k’tiêc tạm thời g’luh 2 xang Vĩ tuyến 17- K’ruung Bến Hải. Hân đhơ ơy vêy xa nay năc đhêy tr’penh năc coh râu la lua cậ, 2 n’đăh dzợ tr’zeng t’mét k’tiêc. Quân giải phóng lâng quân Việt Nam cộng hoa tr’thi clặ cờ đoọng zư lêy đhăm k’tiêc âng đay:“Azi xoọc đêếc bhui har pa bhlang, tr’cuôl, ch’ploọng, g’rooh. Bơr t’ngay t’tun, đhi noo cán bộ du kích âng chr’val coh zr’lụ giải phóng guy cờ âng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tước clặ. Azi tr’pác lướt clặ cờ. Lâng xa nay, cờ clặ đhị ooy năc đhăm k’tiêc n’năc năc âng Chính phủ lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đhị đêêc. Coh t’ngay t’tun, Uỷ ban Giám sát quốc tế tước ch’mêệt lêy lâng xay moon zr’lụ k’tiêc n’năc năc âng hêê.”
Hiệp định Paris c’moo 1973 vêy ta ký kết công năc cr’chăl đhanuôr k’nặ đương cha Tết ty đanh. Râu đêếc năc hân noo ha pruốt tr’nơớp Quý Sửu 1973, đhanuôr coh Quảng Trị bơơn đương cha Tết coh xa nul âng pháo tr’zap c’moo, doọ dzợ vêy xa nul âng bom, cha răh. Manuyh Quảng Trị lướt xó mút ooy Vĩnh Linh năc công bhui har chô ooy bhươl cr’noon ty âng đay. Cr’van âng zập pr’loọng đong năc đhiệp coh bơr ga neng, vel đong bấc ơl hố bom, hố pháo, cum đong năc bấc ơl bhơi xấc chặt vaih, clung ruộng căh ngai bhrợ têng. Apêê đoo năc xay bhrợ cớ tơợ tr’nơơp đhị râu bil hư n’năc. P’căn Trần Thị Mỹ, ắt coh chr’val Triệu Phước, chr’hoong Triệu Phong xay truih, bêl đêêc, ta bhúch xe, năc đhiệp chở đơơng manuyh t’cooh ta ha, p’niên chô ooy đong, đhanuôr năc lướt dung chô ooy đong. Đhanuôr năc lướt đh’rưah ting c’bhuh, loom luôn bhui har ngoọ cơnh ng’lướt lêy bhiệc bhan:“Bhui har pa bhlâng, azi bhặ k’coon coh hoọng, gánh coh chr’lang, tu t’đui đoọng ha apêê t’cooh đhur, lâng p’niên lướt xe. Năc xoọc đêêc lướt dung công cơnh lướt xe, tu ađay k’rơ bhlâng, pa bhlâng bhui har bêl bơơn chô lum lêy cớ pr’loọng đong, k’diic k’coon, lum aconh a căn, diíc điêl tr’lum.”
Đương hơnh deh cr’chăl tr’zap c’moo tết Quý Sửu c’moo 1973, prang zr’lụ giải phóng bhrợ văn nghệ đươi râu tr’ang âng đèn dầu vêy ta bhrợ coh c’nặt cr’đe, óch lâng bhia mộc. Xa nul xoọc đêêc đhiệp muy bêệ máy bán dẫn đươi ooy pin năc đoo bêl pa xul ooy loa sắt năc k’r’bhâu cha năc manuyh zêng bơơn xơợng. T’cooh Trương Kim Quy, ađoo coh C’bhuh văn nghệ chr’val Triệu Phước, chr’hoong Triệu Phong coh bêl ahay xay truih cớ, crêê bêl t’ngay 4 Tết c’moo n’năc ahay, cấp m’piing p’too moon, apêê văn nghệ xay truih âng chr’val Triệu Phước tước ooy chốt Long Quang, chr’val Triệu Trạch, đhị zr’lụ c’noong k’tiêc tạm thời bhlưa 2 n’đăh đoọng biểu diễn bhrợ bh’rợ p’too pa choom arọp:“Coh tr’nơớp lính âng Cộng hoà c’jệ lêy năc c’bhuh văn nghệ zi lướt bhrợ cơnh doọ râu rị, lướt tước mơ ooy công prá nhăn chào apêê ađhi, apêê anoo, ơy têêm ngăn, năc apêê ađhi, anoo tước lêy c’bhuh văn nghệ. Xoọc đêêc, c’bhuh văn nghệ đơơng n’jưl ghi ta, n’jưl mandolin, apêê k’căn t’cooh ta ha công ting lướt, vêy cơnh cậ năc dzợ bhặ đơơng apêê ađhi k’tứi. Biểu diễn văn nghệ mơ ooy, p’niên prá coh loa, amo ơi chô ooy amế lâng azi k’coon hay ama bấc bhlâng. C’bhuh văn nghệ tước ooy lính Cộng hoà k’dua apêê đoo ộm đác, cha chr’na đha năh n’gooh lâng pa prá, xa xay. Ting n’năc, lính Cộng hoà lêy bhui har, liêm crêê năc apêê đoo công tộ tước xơợng ng’hát lâng ting n’táp têy.”
Coh pazêng t’ngay Tết ty đanh, bơr n’đăh năc lơi súng đoọng cha Tết. Nắc coh bha đưn da ding toor k’ruung Thạch Hãn, xang bêl Hiệp định Paris c’moo 1973 vêy chr’năp năc n’leh đợ bh’rợ pa bhlâng choom ng’bhui har ooy loom liêm crêê âng acoon manuyh, ooy râu ắt zazum liêm pr’hay bhlưa bơr miền Bắc- Nam. T’cooh Chu Chí Thành, bêl ahay bhrợ phóng viên cha nụp âng Thông tấn xã Việt Nam, manuyh pr’đoọng bhlâng bơơn lêy đợ xa nay bh’rợ lịch sử xang bêl Hiệp định Paris vêy ta ký kết đhị chiến trường Quảng Trị. Ađoo ơy chụp đơc đợ cha nụp pa bhlâng choom ng’hay âng lịch sử, coh đêêc vêy cha nụp Bơr anhi lính âng 2 n’đăh cr’vắt têy dưr chô năc dưr tr’haanh coh ha y chroo. Manuyh xrặ báo Chu Chí Thành hay cớ:“Acu bhui har pa bhlâng bêl lêy 2 n’đăh manuyh lính Cộng hoà lâng Quân Giải phóng bơơn tr’lum coh m’pâng 2 n’đăh tr’penh. Coh acoon manuyh cu năc dưr n’leh đợ cr’noọ, năc hau tu đợ apêê lính đhị đâu, t’ngay nua năc tr’penh, t’ngay đâu năc tr’cuôl, tr’coóp têy, bran mặt bhui har cơnh đêêc. Acu k’noọ, apêê đoo vêy cr’noọ cr’niêng kiêng pa bhlâng têêm ngăn, apêê đoo ơy bơơn z’lâh râu chêệt bil lâng apêê đoo tr’lum, năc apêê đoo tr’cuôl. Apêê đoo bhui har lâng rơơm kiêng bơơn chô ooy pr’loọng đong.”
Đhăm k’tiếc Quảng Trị năc hình ảnh pa tứi âng chiến tranh Việt Nam, ơy bơơn lêy râu chêệt bil âng bom cha răh bhrợ t’vaih, vêy bấc pa bhlâng râu bil hư. Coh râu đanh đươnh âng lịch sử acoon manuyh, đhăm k’tiếc Quảng Trị ta luôn năc đhị xay p’căh cr’noọ cr’niêng rơơm kiêng têêm ngăn âng acoon manuyh Việt Nam lâng âng acoon manuyh liêm crêê coh prang bha lang k’tiêc. 50 c’moo xang chiến tranh, năc cr’noọ xa nay ăt k’rong zazum, đoàn kết ơy ting chrooi râu chr’năp bhrợ pa dưr râu dưr vaih k’rơ liêm âng đhăm k’tiêc n’nâu./.
50 năm ngày ký Hiệp định Paris: NHỚ MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN
Cách đây 50 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ XX. Mùa xuân đầu tiên Qúy Sửu- 1973, người dân Quảng Trị được đón Tết trong tiếng pháo giao thừa, không còn tiếng đạn bom. Nửa thế kỷ đi qua, trong ký ức của nhiều người luôn nhớ mãi thời khắc mùa xuân đầu tiên năm ấy.
Ông Lê Hữu Thăng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, Nguyên ủy viên UBND Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xã Hải Thượng năm 1972 nhớ mãi thời khắc lịch sử ấy. Lúc đó, người người vỡ òa trong vui sướng, ôm nhau reo hò. Từ đây, hơn 85% diện tích của tỉnh Quảng Trị gồm các huyện, thị xã ở bờ Bắc sông Thạch Hãn và một phần đất của huyện Triệu Phong, thị xã Quảng Trị được giải phóng. Con sông Thạch Hãn và vùng giải phóng Triệu Phong, thị xã Quảng Trị được xem là giới tuyến tạm thời thứ 2 sau Vĩ tuyến 17- Sông Bến Hải. Dù có lệnh ngừng bắn nhưng trên thực địa, 2 bên vẫn giành giật nhau từng mét đất. Quân giải phóng và quân Việt Nam cộng hòa thi nhau cắm cờ để bảo vệ vùng đất của mình:“Chúng tôi lúc đó vô cùng sung sướng, ôm nhau, nhảy lên reo hò. Hai hôm sau, anh em cán bộ du kích của xã ở vùng giải phóng gùi cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào cắm. Chúng tôi chia nhau đi cắm cờ. Với quan điểm, cờ cắm chỗ nào thì vùng đất đo của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ở chỗ đó. Ngày hôm sau, Ủy ban Giám sát của Quốc tế sẽ vào giám sát và công nhận vùng đất đó là của mình.”
Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết cũng là dịp người dân sắp đón Tết cổ truyền. Đó là mùa xuân đầu tiên Qúy Sửu 1973, bà con ở Quảng Trị được đón Tết trong tiếng pháo giao thừa, không còn tiếng đạn bom. Người Quảng Trị sơ tán ở Vĩnh Linh hân hoan trở về làng cũ. Tài sản của mỗi gia đình vỏn vẹn trên đôi quang gánh, quê hương chi chít hố bom, hố pháo, nền nhà xác xơ cỏ dại, đồng ruộng hoang vắng. Họ phải xây dựng lại từ đầu trên đống tro tàn ấy. Bà Trần Thị Mỹ, ở xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong kể, ngày đó, thiếu phương tiện, chỉ ưu tiên chở người già, trẻ em về quê, còn bà con phải chạy bộ trở về nhà. Bà con đi từng đoàn người, lòng vui như trẩy hội: “Quá sức phấn khởi, chúng tôi cõng con ở sau lưng, quang gánh ở trên vai, vì ưu tiên cho những người già, với trẻ em được đi xe. Nhưng lúc đó đi bộ cũng như đi xe vì người khỏe, quá sức phấn khởi được về gặp lại gia đình, chồng con, con gặp cha, chồng gặp vợ.”
Đón giao thừa tết Quý Sửu năm 1973, khắp nơi vùng giải phóng tổ chức liên hoan văn nghệ dưới ánh sáng đèn dầu được làm từ mấy ống tre lồ ô, tim đèn làm bằng vải mộc. Âm thanh lúc bấy giờ chỉ có một máy bán dẫn chạy bằng pin nhưng khi phát ra loa sắt thì hàng ngàn người đều nghe. Ông Trương Kim Quy, thành viên Đội văn nghệ xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong ngày đó kể lại, đúng vào ngày mồng 4 Tết năm đó, cấp trên chỉ đạo, đội văn nghệ tuyên truyền xã Triệu Phước vào tuyến chốt Long Quang, xã Triệu Trạch, nơi ranh giới tạm thời giữa 2 phía để biểu diễn làm công tác binh vận: “Lúc đầu lính Cộng hòa rất ngạc nhiên nhưng đội văn nghệ chúng tôi đi rất tự nhiên, đi đến đâu cũng nói xin chào các chú, các anh, đã hòa bình rồi, mời các chú, các anh đến xem đội văn nghệ. Lúc đó, đội văn nghệ vác đàn ghi ta, đàn mandolin đi, các mẹ già đi theo, thậm chí còn cõng trên vai các em thiếu niên. Biểu diễn văn nghệ chừng nào, các cháu nói trên loa, ba ơi về với mẹ và các con nhớ ba lắm. Đội văn nghệ tiếp cận lính Cộng hòa mời các anh đến uống nước, ăn lương khô và nói chuyện. Dần dần, lính Cộng hòa thấy mình thoả mái, niềm nở tình cảm thì họ cũng đến ngồi nghe hát và vỗ tay.”
Những ngày Tết cổ truyền, hai bên tạm gác súng để ăn Tết. Chính trên khu vực đôi bờ sông Thạch Hãn, ngay sau khi Hiệp định Paris năm 1973 có hiệu lực đã xuất hiện những hình ảnh hết sức xúc động về tình cảm dân tộc, về sự hòa hợp giữa hai miền Bắc - Nam. Ông Chu Chí Thành, nguyên phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam, người may mắn có mặt và chứng kiến những khoảnh khắc lịch sử sau khi Hiệp định Paris được ký kết tại chiến trường Quảng Trị. Ông đã ghi lại bằng hình ảnh những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử, trong đó bức ảnh Hai người lính ở 2 phía chiến tuyến khoác tay nhau đã trở nên nổi tiếng sau này. Nhà báo Chu Chí Thành nhớ lại: “Tôi cực kỳ xúc động khi thấy 2 bên người lính Cộng hòa và Quân Giải phóng có lúc gặp nhau ở điểm giữa 2 tuyến. Trong người tôi có một tình cảm trào dâng, tại sao những người lính tại đây, hôm qua họ đánh nhau, hôm nay họ lại ôm nhau tay bắt, mặt mừng như vậy. Tôi nghĩ rằng, giữa họ có khát khao hòa bình, họ vừa bước qua cái chết và họ gặp nhau thì họ ôm lấy nhau. Họ mừng và họ hy vọng được trở về với gia đình.”
Mảnh đất Quảng Trị là hình ảnh thu nhỏ của chiến tranh Việt Nam, từng chứng kiến sự khốc liệt của bom cày đạn xới, chịu đựng nhiều hy sinh mất mát. Từ trong suốt chiều dài lịch sử, mảnh đất Quảng Trị luôn là một biểu tượng khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam và của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. 50 năm sau chiến tranh, chính tinh thần hòa hợp, đoàn kết đã góp phần quan trọng tạo nên sự hồi sinh kỳ diệu của mảnh đất này./.
Viết bình luận