Đợ c’moo hanua, Đảng, Nhà nước lâng Chính phủ ơy t’bhlâng râu k’đhơợng bhrợ, k’đươi moon lâng pa dưr dal c’năl bh’rợ trách nhiệm âng zâp cấp uỷ, tổ chức Đảng đắh bh’rợ acoon cóh, lấh mơ nắc cóh zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai đhị đhr’năng t’mêê. Lêy tước đâu, vêy 118 chính sách xoọc vêy tơợp đươi bhrợ đhị zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai, ooy đâu vêy 54 chính sách trực tiếp đoọng ha zâp đhanuôr acoon cóh, zr’lụ k’coong ch’ngai; 64 chính sách zr’nưm t’đui đoọng ha đhanuôr zâp acoon cóh lâng k’coong ch’ngai; đắh pa xiêr đha rứt nhâm mâng; đắh bhrợ pa dưr vel bhươl t’mêê; cung cơnh zâp xa nay bh’rợ pa dưr đắh y tế, văn hoá, xã hội; zâp chính sách zooi đoọng đông ắt, k’tiếc ắt, k’tiếc bhrợ cha, đác đươi dua; đoọng vặ t’đui đoọng pa dưr pa xớc bh’rợ tr’nêng, bhrợ đoọng bhiệc bhrợ... zooi đoọng máy móc pr’đươi pr’dua, phân bón, m’ma chr’nóh, bh’năn băn; pa độp đoọng k’tiếc, đoọng crâng; khuyến nông, khuyến lâm bơơn k’rang lêy bhrợ. Tu cơnh đêếc, pr’ắt tr’mung zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai vêy bấc tr’xăl liêm choom. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban acoon cóh Hầu A Lềnh đoọng năl: “Bh’rợ acoon cóh lâng chính sách acoon cóh nắc đoo quốc kế dân sinh, nắc đợ râu âng đhanuôr k’rang lêy, nắc trách nhiệm âng hêê bêl bhrợ zâp râu bhiệc nắc lêy zêng tu đhanuôr, nâu đoo nắc trách nhiệm ahêê bhrợ. Lâng nắc bh’rợ chấc lêy bhiệc đoọng ha pêê, chấc lêy c’lâng pa dưr pa xớc đoọng bhrợ liêm choom chính sách, bh’rợ acoon cóh ooy cr’chăl t’mêê.”
Tước đâu, prang k’tiếc k’ruung vêy 255 đơn vị cấp chr’hoong âng 58 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ơy bơơn Thủ tướng Chính phủ moon bhrợ liêm xang bh’rợ bơơn chuẩn vel bhươl t’mêê, bơơn k’noọ 40% pa zêng đơn vị cấp chr’hoong âng prang k’tiếc k’ruung. Zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai ơy vêy 1.052 chr’val, vêy tước 22,3% bơơn chuẩn vel bhươl t’mêê, ooy đau 106 chr’val tơợ pa bhlâng zr’nắh k’đhạp t’bhlâng váih chr’val vel bhươl t’mêê; vêy 27 chr’hoong cóh zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngao, vêy 6% bơơn chuẩn vel bhươl t’mêê. Zâp c’moo, đợ mơ pr’loọng đha rứt zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai xiêr 1,2%; ơy vêy 22 chr’hoong, 125 chr’val, k’noọ 1.300 vel bhươl dưr zi lấh zr’nắh k’đhạp.
Mưy ooy đợ vel đông vêy râu tr’xăl k’rơ nắc tỉnh Sóc Trăng. Ting cơnh t’coóh Phan Thanh Nhã, cóh chr’val Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, zâp chính sách acoon cóh cơnh xa nay bh’rợ k’tiếc k’ruung đắh pa xiêr đha rứt, đắh bhrợ pa dưr vel bhươl t’mêê ơy lalua bhrợ tr’xăl pr’ắt tr’mung vel bhươl cóh đâu. Chính quyền zâp cấp ta luôn t’bhlâng bhrợ t’bhứah bấc bh’rợ pr’hay, liêm choom đoọng t’bhlâng pa dưr dal đhr’năng bh’rợ lêy bhrợ, pa câl đoọng zâp pr’loọng đha rứt, pr’loọng đhanuôr acoon cóh. T’coóh Phan Thanh Nhã moon: “Zâp cơ sở hạ tầng vel bhươl, điện, c’lâng, trường, trạm, zâp xa nay bh’rợ chr’nắp liêm bơơn k’rang lêy k’rong cóh zr’lụ vêy bấc đhanuôr acoon cóh. Đhanuôr nắc manứih acoon cóh, bơơn pa đăn zâp pr’đơợ pazưm pa dưr pa xớc kinh tế pr’loọng đông, tơợ đêếc đợ mơ pr’loọng đha rứt zâp c’moo cóh vel đông chr’val zêng xiêr, zên pa chô mưy cha nặc zêng dưr.”
Bh’rợ pa dưr pa xớc p’too pa choom, pa dưr dal chất lượng manứih pa bhrợ acoon cóh cung bơơn Đảng, Nhà nước p’ghít lêy k’rang. Xoọc đâu, prang k’tiếc k’ruung vêy 316 trường Phổ thông Dân tộc nội trú cóh 49 tỉnh, thành phố lâng lấh 109 r’bhâu học sinh; zâp chính sách zooi pa choom bh’rợ tr’nêng ha manứih acoon cóh bơơn xay bhrợ. cr’chăl c’moo 2016-2020, vêy lấh 800 r’bhâu manứih acoon cóh bơơn pa choom bh’rợ tr’nêng, ooy đâu vêy k’dâng 412 r’bhâu apêê pa bhrợ vel bhươl nắc manứih acoon cóh bơơn zooi đoọng pa choom dứp 3 c’xêê. T’coóh Đào Trọng Độ, Vụ trưởng Vụ Đào tạo thường xuyên, Tổng Cục pa choom bh’rợ tr’nêng, Bộ Lao động thương binh lâng xã hội moon, đợ bh’nơơn ơy bơơn, cr’noọ bh’rợ tước c’moo 2025, prang k’tiếc k’ruung vêy 50% apêê pa bhrợ nắc manứih acoon cóh ơy bơơn pa choom bh’rợ tr’nêng: “Đhị khoản 3 điều 62 Luật giáo dục bh’rợ tr’nêng nắc vêy pân đil acoon cóh lâng pa bhrợ cóh vel bhươl bêl pấh pa choom trình độ sơ cấp lâng dứp 3 c’xêê nắc bơơn zooi đoọng ting cơnh quy định âng Thủ tướng. Ha dợ đắh tuyển sinh lâng trình độ trung cấp cao đẳng pa choom pazưm nắc cung vêy đợ râu t’đui đoọng ha đhanuôr acoon cóh."
Đh’rứah lâng đợ râu tr’xăl, pa dưr pa xớc đắh kinh tế xa xhội zr’lụ đhanuôr acoon cóh lâng k’coong ch’ngai, nắc pr’ắt tr’mung văn hoá cóh vel đông cung vêy đợ bhr’dzang pa dưr pa xớc liêm ghít. Zâp bh’rợ lêy bhrợ văn hoá, cơ sở pr’đươi pr’dua, 2, 3 k’cir văn hoá zr’lụ đhanuôr zâp acoon cóh bơơn hơnh déh. Zâp bh’rợ giao lưu văn hoá bơơn bhrợ ga mắc. Mưy ooy đâu nắc p’rá, chữ xrặ âng đhanuôr acoon cóh./.
Những chính sách dân tộc lớn làm đổi thay vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chính sách dân tộc của Việt Nam luôn được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc, quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc tiếp tục được khẳng định và bổ sung nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong suốt hơn 90 năm qua theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Những năm qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào DTTS và miền núi trong tình hình mới. Tính đến nay, có 118 chính sách đang có hiệu lực triển khai thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 54 chính sách trực tiếp cho các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều chương trình như Chương trình 135, Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; về giảm nghèo bền vững; về xây dựng nông thôn mới; cũng như các chương trình mục tiêu về y tế, văn hóa, xã hội; các chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; cho vay vốn ưu đãi phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm…hỗ trợ máy móc thiết bị, phân bón, giống, cây trồng, vật nuôi; giao đất, giao rừng; khuyến nông, khuyến lâm được quan tâm thực hiện. Nhờ đó, kinh tế- xã hội vùng DTTS và miền núi có nhiều chuyển biến tích cực. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh cho biết: “Công tác dân tộc và chính sách dân tộc là không phải là trừu tượng, mà chính là quốc kế dân sinh, là những điều mà bà con trăn trở, cho nên trách nhiệm của chúng ta khi thực hiện bất cứ điều gì thì đều làm vì đồng bào, đây là trách nhiệm chúng ta phải làm. Đồng thời là nghĩa vụ tìm kiếm công việc cho họ, tìm kiếm cơ hội cho họ phát triển để triển khai hiệu quả chính sách, công tác dân tộc trong giai đoạn tới.”
Đến nay, cả nước có 255 đơn vị cấp huyện thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm gần 40% tổng số đơn vị cấp huyện của cả nước. Vùng DTTS và miền núi đã có 1.052 xã (chiếm 22,3%) đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 106 xã từ đặc biệt khó khăn phấn đấu trở thành xã NTM; có 27 huyện ở vùng DTTS và miền núi (chiếm 6%) đạt chuẩn NTM. Hằng năm, tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS và miền núi giảm 2 - 3%; các xã, thôn đặc biệt khó khăn giảm 3 - 4%; các huyện nghèo giảm 4 - 5%, có nơi giảm trên 5%. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo toàn vùng giảm 1,2%; đã có 22 huyện, 125 xã, gần 1.300 thôn ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.
Một trong những địa phương có sự thay đổi mạnh mẽ là tỉnh Sóc Trăng. Theo ông Phan Thanh Nhã, ở xã Vĩnh Tân (thị xã Vĩnh Châu), các chính sách dân tộc như Chương trình MTQG về giảm nghèo, về xây dựng NTM đã thực sự làm thay đổi bộ mặt nông thôn nơi đây. Chính quyền các cấp luôn tích cực nhân rộng nhiều mô hình hay, hiệu quả để nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh cho các hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Ông Phan Thanh Nhã cho biết: “Các cơ sở hạ tầng nông thôn, điện, đường, trường, trạm, các công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Bà con là người dân tộc thiểu số, được tiếp cận các điều kiện tập trung phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó tỷ lệ hộ nghèo hàng năm trên địa bàn xã đều giảm, thu nhập bình quân đầu người hàng năm đều tăng lên.”
Công tác phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực người DTTS cũng được Đảng, Nhà nước chú trọng quan tâm. Hiện nay, toàn quốc có 316 trường Phổ thông Dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với trên 109.000 học sinh; các chính sách hỗ trợ đào tạo, dạy nghề cho người DTTS được tích cực triển khai thực hiện. Giai đoạn 2016-2020, có trên 800 nghìn người DTTS được đào tạo nghề nghiệp, trong đó có khoảng 412 nghìn lao động nông thôn là người DTTS được hỗ trợ đào tạo dưới 3 tháng. Ông Đào Trọng Độ, Vụ trưởng Vụ Đào tạo thường xuyên, Tổng Cục dạy nghề (Bộ Lao động thương binh và xã hội) cho biết, với những kết quả đã đạt được, mục tiêu tới năm 2025, cả nước có 50% lao động là dân tộc thiểu số được qua đào tạo nghề: “Tại khoản 3 điều 62 Luật giáo dục nghề nghiệp thì có điều phụ nữ DTTS và lao động nông thôn khi tham gia đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng thì được hỗ trợ theo quy định của Thủ tướng. Còn trong tuyển sinh đối với trình độ trung cấp cao đẳng học tập trung thì cũng có những yếu tố ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số.”
Cùng với những đổi thay, khởi sắc trong phát triển kinh, xã hội vùng DTTS và miền núi, thì đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có những bước cải thiện rõ rệt. Các thiết chế văn hóa được tăng cường, cơ sở vật chất, một số di sản văn hóa của vùng đồng bào các dân tộc được tôn vinh. Các hoạt động giao lưu văn hóa được tổ chức tầm quốc gia, liên vùng, đã góp phần bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc. Một trong số đó chính là tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số./.
Viết bình luận