Zập c’moo, tỉnh Yên Bái choh t’mêê lâh 15 r’bhâu héc ta pazêng râu crâng, pa dưr đợ gâm ngút âng crâng tơợ 62 coh c’moo 2015 tước 63% coh c’moo 2022, dzoong t’nooi 4 coh prang k’tiêc k’ruung. Cr’noỌ âng tỉnh năc tước c’moo 2025, đợ gâm ngút âng crâng bơơn 65%, đợ n’loong crâng choh vêy ta pay đươi coh zập c’moo bơơn 500 r’bhâu m3, t’hước dưr vaih zr’lụ bhrợ têng n’loong crâng choh ga măc lâng công nghệ t’mêê. Pazêng acoon số n’têh đoọng lêy kinh tế lâm nghiệp ơy lâng xoọc dưr vaih bh’rợ vêy bấc apêê doanh nghiệp, đhanuôr ting bhrợ têng lâng dưr c’rơ đoọng pa dưr kinh tế pazêng vel đong.
Pr’loọng đong p’căn Lý Thị Mỹ, ắt coh tổ 10, thị trấn Mậu A, chr’hoong Văn Yên vêy 2 bhươn ươm lâng k’dâng mơ bơr ức m’ma quế. Đươi zư lêy liêm choom năc pazêng t’nơơm quế chặt vaih liêm, crêê cơnh cr’noọ choh crâng âng đhanuôr đhị chr’hoong. Zập c’moo, pác lơi zên bhrợ têng, pr’loọng đong p’căn Mỹ pay pa chô k’nặ 150 ức đồng:“Bhrợ vơr vai, coh tr’nơơp azi bhrợ m’bứi a năm, xang n’năc zập c’moo t’tun năc bhrợ t’bấc lâh mơ tước bơr pêê zệt bhạn. Tơơm quế u chặt vaih năc kinh tế công z’zăng m’bứi.”
Bhrợ bh’rợ choh crâng k’nặ 30 c’moo, căh bool p’căn Nguyễn Thị Nguyệt coh cr’noon Hơn, chr’val Thịnh Hưng, chr’hoong Yên Bình lêy crâng năc chô đơơng bấc râu chr’năp cơnh pazêng c’moo đăn đâu. P’căn Nguyệt xay moon, l’lăm ahay đhanuôr vel đong buôn vêy bh’rợ col pay n’loong choh tơợ 6 tước 7 c’moo, năc đăn đâu pa đanh c’moo chặt vaih tước 10 c’moo, năc chr’năp bấc lâh mơ tơợ 1,5 tước 2 chu t’piing lâng bh’rợ col đươi n’loong nhuum. Coh crâng, pazêng pr’loọng đong dzợ bhrợ bh’rợ băn c’roọt, băn a tứch ađha pa dưr râu bơơn pay pa chô công z’zăng:“Choh pa dưr crâng n’loong ga măc năc nhâm mâng kinh tế đanh đươnh, tu ba bi cơnh ng’choh 7 c’moo năc ađay pa câl 1 héc ta năc bơơn k’dâng 60- 70 ức đồng năc ađay đơc tứơc 12 c’moo năc lâh 100 ức, xoọc đêêc năc ađay doọ dzợ k’rong bhrợ lâng dh’rưah băn c’roọt coh crâng, k’rong đh’rưah bơr râu n’nâu.”
Coh cr’chăl ahay, đoọng pa dưr râu liêm choom, chr’năp âng crâng choh, tỉnh Yên Báih ơy p’too moon pazêng vel đong bhrợ choh crâng pa bhrợ ting c’lâng bh’rợ zư lêy crâng nhâm mâng (FSC). Tước nâu cơy, prang tỉnh vêy k’nặ 12 r’bhâu héc ta crâng choh vêy ta đoọng chứng chỉ FSC, t’bhlâng k’dâng 4 c’moo ha y năc vêy k’dâng 100 r’bhâu héc ta cranag vêy ta đoọng chứng chỉ n’nâu. Ting n’năc, pazêng vel đong ta đang moon đhanuôr xăl tơợ crâng n’loong k’tứi ooy crâng n’loong ga măc, nhâm mâng pr’đươi crêê cơnh xa nay đoọng ha ngành bhrợ n’loong dưr vaih k’rơ lâh mơ. T’cooh Đỗ Đà Giàng, Phòng Khuyến nông choh crâng k’coong, Trung tâm Khuyến nông k’tiêc k’ruung xay moon:“Crâng ting cơnh xa nay FSC năc xa nay xay moon âng bha lang k’tiêc, tơợ bêl bhrợ têng, năc tơợ tơớp choh, tơợ m’ma tước bh’rợ kỹ thuật lâng tước ooy bh’rợ k’đhơợng lêy, zư lêy năc zêng ting cơnh xa nay bha lang k’tiêc. Bhrợ têng ting cơnh xa nay FSC năc pazêng pr’đươi âng crâng ahêê năc choom tước ooy pazêng thị trường ga măc coh bha lang k’tiếc tơợ châu Âu, châu Mỹ, Nhật, Trung Quốc… chr’năp đơơng pa chô năc ga măc lâh mơ t’piing lâng bh’rợ ahêê bhrợ têng ting cơnh ty đanh.”
Prá xay ooy râu liêm choom âng kinh tế crâng đhị Yên Bái năc căh choom căh xay truih tước ooy dưr vaih âng pazêng bh’rợ tr’nêng bhrợ n’loong lâng câl đươi pr’đươi ta bhrợ tơợ n’loong choh.
Prang tỉnh xoọc vêy lâh 500 đhị bhrợ têng n’loong, coh đêêc vêy k’nặ 100 doanh nghiệp lâng hợp tác xã, ha mơ dzợ năc âng cr’nhăng. Pr’đươi bhrợ têng tơợ cơnh sơ chế pr’đươi ng’đươi, cơnh: pa pan, pa pan ơy xe k’đặ, tước ooy pazêng pr’đươi ta bhrợ cơnh: pa pan ép, pa pan ta clặ đơơng pa câl ooy k’tiêc k’ruung n’lơơng… Ting n’năc, tỉnh Yên Bái năc dzợ vêy doanh nghiệp pa bhrợ coh bh’rợ bhrợ bha ar lâng bột bha ar, bha lâng năc bhrợ bha ar đế, bha ar vàng mã… Tơợ đêêc năc bhrợ t’vaih bh’rợ tr’nêng đoọng ha lâh 3 r’bhâu manuyh pa bhrợ, chroi đoọng bấc bhlâng ooy bh’rợ pay pa chô ooy ngân sách tỉnh. T’cooh Nguyễn Văn Trữ, Phó Giảm đốc Công ty cổ phần Lâm Nông sản chr’na đha năh Yên Bái, muy coh pazêng công ty liêm choom bhlâng coh bh’rợ bhrợ bha ar xay moon:“Azi công ơy pa dưr râu liêm choom âng pr’đươi k’rơ lâh mơ đoọng crêê cơnh cr’noọ đươi dua âng thị trường ting t’ngay k’rơ lâh mơ. Azi công ơy pa liêm muy bơr râu pr’đươi coh bh’rợ bhrợ têng; đoọng ooy muy bơr cán bộ kỹ thuật lướt lêy tơợ pazêng apêê đơn vị bhrợ têng liêm choom bhlâng đoọng chô xay bhrợ ooy công ty zi.”
Lâng pazêng đhăm crâng lâng k’tiêc quy hoạch đoọng ha bh’rợ bhrợ têng lâm nghiệp k’nặ 479 r’bhâu héc ta, Yên Bái năc vel đong vêy đợ n’loong ga măc coh zr’lụ apêê tỉnh da ding k’coong n’đăh Bắc, zập c’moo năc choom đươi k’nặ 700 r’bhâu m3 pazêng râu n’loong lâng lâh 150 r’bhâu tấn cr’đe, am. Râu liêm choom n’nâu ơy lâng xoọc vêy apêê doanh nghiệp coh vel đong đươi dua, đoọng cơnh cr’noọ năc bhrợ bấc cơnh bh’rợ bhrợ têng, pa dưr đợ zên bơơn pay pa chô, ting chroi ooy xa nay bh’rợ pa dưr zazum âng kinh tế vel đong./.
Phát triển kinh tế rừng ở Yên Bái
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ 19 xác định xây dựng “Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Trung du và miền núi phía Bắc tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Khu công nghệ cao được hình thành sẽ nâng cao tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, đồng thời xây dựng được thương hiệu ngành công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản trong khu vực trung du, miền núi phía Bắc. Thực hiện nội dung này, tỉnh Yên Bái đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp để phát triển kinh tế lâm nghiệp và phấn đấu sớm trở thành trung tâm chế biến lâm sản công nghệ cao.
Hàng năm, tỉnh Yên Bái trồng mới trên 15.000 héc ta rừng các loại, đưa tỷ lệ che phủ rừng từ 62% vào năm 2015 lên 63% vào năm 2022, xếp thứ tư trong toàn quốc. Mục tiêu của tỉnh là đến năm 2025, tỷ lệ che phủ rừng đạt 65%, sản lượng gỗ rừng trồng khai thác hàng năm đạt 500 ngàn m3, hướng đến trở thành trung tâm chế biến gỗ rừng trồng quy mô lớn với công nghệ hiện đại. Những con số trên cho thấy kinh tế lâm nghiệp đã và đang trở thành lĩnh vực thu hút nhiều doanh nghiệp, người dân tham gia và trở thành động lực để phát triển kinh tế ở các địa phương.
Gia đình bà Lý Thị Mỹ ở tổ 10, thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên có 2 vườn ươm với khoảng hai triệu cây quế giống. Nhờ chăm sóc cẩn thận nên cây phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu trồng rừng của người dân trên địa bàn huyện. Mỗi năm, trừ chi phí, gia đình bà Mỹ thu về gần 150 triệu đồng:“Làm dần dần, lúc đầu chúng tôi chỉ làm ít thôi rồi mỗi năm làm tăng lên một vài chục vạn. Cây quế nó phát triển thì kinh tế nó cũng được một chút.”
Gắn bó với nghề trồng rừng gần 30 năm, chưa bao giờ bà Nguyễn Thị Nguyệt ở thôn Hơn, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình cảm thấy rừng lại mang nhiều giá trị như những năm gần đây. Bà Nguyệt chia sẻ, trước đây người dân địa phương có thói quen duy trì chu kỳ khai thác gỗ rừng trồng từ 6 đến 7 năm, nhưng gần đây kéo dài chu kỳ lên hơn 10 năm, nên giá thành cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với khai thác rừng non. Dưới tán rừng, các hộ còn phát triển thêm nghề nuôi ong, chăn nuôi gia cầm cho thu nhập khá:“Nuôi một rừng gỗ lớn để đảm bảo kinh tế dài, bởi vì chẳng hạn như 7 năm mình bán thì 1 ha có thể được khoảng 60 – 70 triệu nhưng mà mình để 12 năm thì được hơn trăm triệu cơ, trong lúc đó mình không phải đầu tư nữa và kết hợp mình nuôi ong dưới tán rừng, hai cái kết hợp với nhau.”
Thời gian qua, để nâng cao chất lượng, giá trị rừng trồng, tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo các địa phương thực hiện trồng rừng sản xuất theo hướng quản lý rừng bền vững (FSC). Đến nay, toàn tỉnh có gần 12 ngàn héc ta rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, phấn đấu khoảng 4 năm tới sẽ có khoảng 100 ngàn héc ta rừng được cấp chứng chỉ này. Bên cạnh đó, các địa phương vận động nhân dân chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, đảm bảo nguồn nguyên liệu đủ tiểu chuẩn cho ngành chế biến lâm sản phát triển mạnh. Ông Đỗ Đà Giang, Phòng Khuyến nông Trồng trọt lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhận định:“Rừng theo chứng chỉ FSC đó là theo chứng chỉ công nhận quốc tế, từ khi sản xuất, bắt đầu từ nguồn vào, từ giống đến biện pháp kỹ thuật và đến việc quản lý, chăm sóc thì đều theo tiêu chuẩn quốc tế. Sản xuất theo tiêu chuẩn FSC thì những sản phẩm lâm sản chúng ta có thể xâm nhập vào các thị trường lớn trên thế giới từ châu Âu, châu Mỹ, Nhật, Trung Quốc… Giá trị đem lại là lớn hơn rất nhiều so với việc chúng ta sản xuất truyền thống.”
Nói về hiệu quả của kinh tế rừng tại Yên Bái không thể không đề cập đến sự phát triển của các hoạt động chế biến và tiêu thụ các sản phẩm từ rừng trồng.
Toàn tỉnh hiện có trên 500 cơ sở chế biến gỗ, trong đó có gần 100 doanh nghiệp và hợp tác xã, còn lại hộ cá thể. Sản phẩm sản xuất ra từ dạng sơ chế nguyên liệu thô như: ván bóc, ván xẻ thanh, đến các sản phẩm được chế biến sâu như: ván ép, ván ghép thanh xuất khẩu... Bên cạnh đó, tỉnh Yên Bái còn có các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giấy và bột giấy, mà chủ lực là sản xuất giấy đế, giấy vàng mã... Từ đây giải quyết việc làm cho trên 3.000 lao động, đóng góp không nhỏ vào nguồn thu ngân sách tỉnh. Ông Nguyễn Văn Trữ, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Lâm Nông sản thực phẩm Yên Bái, một trong những công ty nổi bật trong lĩnh vực chế biến giấy cho biết: “Chúng tôi cũng đã nâng cao chất lượng sản phẩm lên một bước nữa để đáp ứng được yêu cầu của thị trường ngày càng cao. Chúng tôi cũng đã cải tiến một số các thiết bị trong dây chuyền công nghệ; cho một số cán bộ kỹ thuật đi học hỏi ở các đơn vị có tiêu chuẩn cao hơn để về áp dụng vào công ty chúng tôi.
Với tổng diện tích rừng và đất quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp gần 479 ngàn héc ta, Yên Bái là địa phương có sản lượng gỗ lớn trong khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, mỗi năm có thể khai thác gần 700 ngàn m3 gỗ các loại và trên 150 ngàn tấn tre, vầu, nứa. Lợi thế này đã và đang được các doanh nghiệp trên địa bàn tận dụng, nhằm mục tiêu đa dạng sản xuất, gia tăng doanh thu, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế địa phương./.
Viết bình luận