Việt Nam năc k’tiếc k’ruung vêy bấc k’bhuh acoon coh lâng bấc đh’riêng p’rá lalay cơnh, lâng 54 k’bhuh acoon ma nuyh lâh 90 đh’riêng p’rá lalay cơnh. Zập k’bhuh acoon ma nuyh zêng vêy boop p’rá lalay âng đay. Zập đh’riêng p’rá âng zập k’bhuh acoon ma nuyh năc pr’đơợ dưr vaih chr’năp văn hóa. Đh’rưah năc rau đoọng dưr vaih lâng zư đơc apêê chr’năp liêm bhlầng coh pr’ặt tr’mông âng đhanuôr zập acoon ma nuyh. Tu cơnh đêêc, bh’rợ zư lêy đh’riêng p’rá âng đhanuôr acoon coh năc bh’rợ pr’hân lêy bhrợ.
Ting cơnh xay moon âng Bộ Văn hóa - Thể thao lâng Du lịch, tước nâu kêi, ơy vêy 51 thư viện cấp tỉnh, 541 thư viện cấp chr’hoong lâng k’nặ 2.200 thư viện cấp chr’val đhị apêê vel đong vêy đhanuôr acoon coh ặt ma mông xoọc vêy apêê sách lâng bơr p’rá năc p’rá acoon coh lâng p’rá a đhuôc. Pa bhlầng, bấc thư viện ơy pa zay số hóa apêê tài liệu lâng p’rá acoon coh đoọng zư đơc coh đanh đươnh cơnh: Thư viện tỉnh Yên Bái ơy số hóa 100% tài liệu lâng p’rá acoon coh; Thư viện tỉnh Sơn La vêy lâh 1.000 cuốn sách lâng p’rá Thái ty, số hóa bơơn lâh 23.000 trang tài liệu lâng p’rá acoon coh; Thư viện dân sinh ngoài công lập đhị apêê chùa Khmer đoọng tài liệu lâng p’rá acoon coh đoọng ha đhanuôr Khmer apêê tỉnh, thành đăh Nam.
Xoọc đâu, đhị apêê vel đong, p’rá lâng chữ xrặ âng bấc đhanuôr acoon coh đhơ bơơn xay moon đươi xơợng ha dợ bơơn xay moon coh muy zr’lụ căh lâh bhưah, bấc đhanuôr acoon coh căh bơơn đươi dua p’rá âng ma nuyh đay. Tu cơnh đêêc, zư lêy, pa dưr p’rá, chữ xrặ zập k’buh acoon coh năc êêh rau bh’rợ âng muy ngai, năc lêy vêy cơnh pa zưm têy âng prang xã hội.
Tu cơnh đêêc, cr’chăl a hay, bấc vel đong ơy vêy pazêng cơnh bhrợ liêm choom. Năc cơnh tỉnh Khánh Hòa bhrợ lớp pa choom p’rá, chữ xrặ âng ma nuyh Rắc-lêy đoọng ha cán bộ, công chức, viên chức; tỉnh Phú Thọ zư lêy, pa choom pr’hat dân ca, chr’ơh ty đanh âng đhanuôr, căh cợ tỉnh Ninh Thuận pa chăp lêy, k’rong đơc, xrặ pa căh chữ Chăm, lêy pa đốp đoọng Thư tịch ty Chăm lâng bơơn Trung tâm zư đơc k’tiếc k’ruung II thành phố HCM pa liêm, pa xoọng, số hóa.
Amoó Bhling Thị Tuyền, ặt đhị chr’val Cà Dy, chr’hoong Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) năc ma nuyh Cơ Tu ơy ting pâh lớp pa choom moon ghit, đhị apêê khóa học, học viên bơơn apêê chuyên gia, đong k’đhơợng lêy lâng nghệ nhân pa choom cơnh prá, cơnh xrặ chữ âng acoon coh đay. Rau đâu lalua năc vêy chr’năp ta nih lâng đhanuôr acoon coh. “Ting pâh lớp tập huấn nâu a cu bhui har pa bhlầng. Nâu đoo năc g’luh tr’nơợp a cu bơơn ting pâh pa choom đăh lớp zư lêy boop p’rá, chữ xrặ âng Cơ Tu zi. Cung cơnh bấc apêê đhanuôr lơơng đhị chr’val Cà Dy, a cu năc năl p’rá ha dợ căh ơy choom xrặ chữ Cơ Tu. Rơơm tước đâu, năc bêl đoọng ha zi bơơn chêêc năl lâng ting pa choom lâh mơ ooy chữ Cơ Tu moon lalay lâng văn hóa moon zr’nưm.”
Jưah lâng đêêc, Bộ Giáo dục lâng Đào tạo cung ơy vêy bấc c’lâng bh’rợ đoọng t’bhưah zr’lụ, pa dưr dal bh’nơơn pa too pa choom p’rá acoon coh đhị nhà trường. Xọoc đâu, prang k’tiếc k’ruung vêy 6 p’rá acoon coh bơơn pa choom coh trường học, pazêng: P’rá Mông, p’rá Ê Đê, Ja-Rai, Ba Na, Chăm lâng p’rá Khmer đhị 21 tỉnh, thành phố âng Trung ương. Zập c’moo, vêy mơ 600 trường học lâng 4.500 lớp học vêy lâh 110.000 học sinh bơơn pa choom p’rá acoon coh đay. Pa bhlầng, xa nay bh’rợ âng k’tiếc k’ruung pa dưr pr’ặt tr’mông đhanuôr zr’lụ acoon coh lâng da ding ca coong cr’chăl c’moo 2021-2030 năc vêy pa xoọng bh’rợ zư lêy boop p’rá lâng chữ xrặ apêê acoon coh.
Ting cơnh t’cooh Trần Mạnh Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa Dân tộc (Bộ VHTT&DL), xọoc đâu, apêê vel đong coh prang k’tiếc k’ruung ơy xay bhrợ bấc khóa học đăh bh’rợ zư lêy đh’iêng p’rá, chữ xrặ đoọng ha đhanuôr acoon coh, coh đêêc vêy bấc apêê t’cooh bhươl, trưởng cr’noon cung cơnh pazêng ma nuyh bấc ngai chăp. Apêê lớp pa choom đăh zư lêy đh’riêng p’rá, chữ xrặ căh muy đơơng chr’năp ga măc ga mai âng apêê cấp chính quyền lâng đhanuuôr đăh chr’năp văn hóa ty đanh âng acoon coh, năc dzợ đoọng đươi coh pr’ặt tr’mông zập t’ngay, chroi k’rong pa dưr pr’ặt tr’mông âng đhanuôr vel bhươl. “Bhiệc bhrợ têng apêê lớp tập huấn năc đoo bh’rợ đăh zư lêy văn hóa ty đanh coh prang k’tiếc k’ruung cơnh lâng apêê vel đong vêy đhanuôr acoon coh. Vụ Văn hóa Dân tộc rơơm kiêng nâu đoo năc pr’đơợ, đơơng chr’năp pa căh c’lâng đoọng ha rau pa zưm bhlưa Trung ương lâng vel bhươl lâng bh’rợ bhrợ cơnh ooy đoọng zư lêy văn hóa zập k’bhuh acoon coh muy cơnh liêm choom bhlầng.”
Cơnh đêêc, tơợ pazêng c’rơ pa zay đăh văn hóa ơy t’vaih pr’đơợ đoọng đh’riêng p’rá, chữ xrặ âng zập k’bhuh acoon coh bơơn đươi dua bấc lâh mơ, bhưah lâh mơ coh pr’ặt tr’mông xã hội, chroi k’rong bhrợ têng Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đăh bhrợ pa dưr lâng đoọng hadưr lâh mơ văn hóa Việt Nam hêê./.
Bảo tồn tiếng nói của người thiểu số- câu chuyện không của riêng ai
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ, với 54 dân tộc và hơn 90 ngôn ngữ khác nhau. Mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ của mỗi dân tộc là một thành tố cơ bản của văn hóa. Đồng thời, là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, công tác bảo tồn tiếng nói, ngôn ngữ vùng DTTS hiện nay là việc làm cấp bách.
Theo báo cáo của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, đến nay, đã có 51 thư viện cấp tỉnh, 541 thư viện cấp huyện và gần 2.200 thư viện cấp xã tại các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống hiện có đầu sách song ngữ bằng tiếng dân tộc – tiếng phổ thông. Đặc biệt, nhiều thư viện đã nỗ lực số hóa tài liệu bằng tiếng dân tộc để lưu giữ lâu dài như: Thư viện tỉnh Yên Bái đã số hóa 100% tài liệu bằng tiếng dân tộc; Thư viện tỉnh Sơn La có trên 1.000 cuốn sách bằng tiếng Thái cổ, số hóa được hơn 23.000 trang tài liệu bằng tiếng dân tộc; Thư viện dân sinh ngoài công lập tại các chùa Khmer tổ chức phục vụ tài liệu bằng tiếng dân tộc cho đồng bào Khmer các tỉnh, thành phía Nam.
Hiện nay, tại các địa phương, tiếng nói và chữ viết của nhiều DTTS dù được công nhận nhưng lại chỉ được phổ biến trong phạm vi giới hạn, không ít người DTTS không có cơ hội để sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Do đó, bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các DTTS không phải việc của riêng ai mà cần có sự chung tay của toàn xã hội. Chính vì thế, thời gian qua, nhiều địa phương đã có những cách làm hiệu quả. Điển hình như tỉnh Khánh Hòa mở lớp học tiếng nói, chữ viết của người Rắc-lây cho cán bộ, công chức, viên chức; tỉnh Phú Thọ bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào DTTS thông qua truyền dạy các bài hát, làn điệu dân ca, trò chơi dân gian của đồng bào; hay như tỉnh Ninh Thuận nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn sách chữ Chăm, tiến hành giao nhận Thư tịch cổ Chăm và được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Thành phố Hồ Chí Minh tu bổ, bồi nền, số hóa.
Chị Bhling Thị Tuyền, ở xã Cà Dy, huyện Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) là người dân tộc Cơ Tu đã từng tham gia lớp tập huấn khẳng định, tại các khóa học, học viên được các chuyên gia, nhà quản lý và nghệ nhân truyền dạy và hướng dẫn về cách nói, cách viết ngôn ngữ dân tộc mình. Điều này thực sự có ý nghĩa và thiết thực với đồng bào: “Tham gia lớp tập huấn tôi rất vui và tự hào. Đây là lần đầu tiên tôi được tham gia tập huấn về bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc Cơ Tu mình. Cũng như đa số bà con ở xã Cà Dy, tôi chỉ biết nói tiếng chứ chưa biết chữ. Hy vọng đây sẽ là dịp để tôi tìm hiểu và học sâu hơn về chữ viết Cơ Tu mình nói riêng và văn hóa truyền thống dân tộc nói chung.”
Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều giải pháp để mở rộng phạm vi, nâng cao chất lượng dạy tiếng DTTS trong nhà trường. Hiện cả nước có 6 tiếng DTTS được tổ chức dạy học chính thức trong trường học, gồm: Tiếng Mông, tiếng Ê Đê, Ja-Rai, Ba Na, Chăm và tiếng Khmer tại 21 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hằng năm, có khoảng 600 trường học với 4.500 lớp học và hơn 110.000 học sinh được học tiếng DTTS. Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 sẽ có thêm nguồn lực cho việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết các DTTS.
Theo ông Trần Mạnh Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa Dân tộc (Bộ VHTT&DL), hiện nay, các địa phương trên cả nước đã triển khai nhiều khóa học về công tác bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có các già làng, trưởng bản cũng như người có uy tín trong cộng đồng. Các lớp tập huấn về bảo tồn tiếng nói, chữ viết không chỉ là hoạt động ý nghĩa nhằm nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và người dân về giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, mà còn để phục vụ cuộc sống thường ngày, góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương: “Việc tổ chức các lớp tập huấn là hoạt động về bảo tồn văn hóa truyền thống trên phạm vi toàn quốc đối với các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số. Vụ Văn hóa Dân tộc mong muốn đây sẽ là tiền đề, mang tính chất gợi mở để cho sự phối hợp giữa Trung ương với địa phương với mục đích làm sao bảo tồn văn hóa các dân tộc một cách hiệu quả nhất.”
Như vậy, từ những nỗ lực trong lĩnh vực văn hóa đã tạo điều kiện để tiếng nói, chữ viết của các DTTS được sử dụng nhiều hơn, rộng rãi hơn trong đời sống xã hội, góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc../.
Viết bình luận