Vêy cơnh cậ nắc m’bứi pa bhlâng manuýh n’năl, đhị đhăm k’tiếc đăn ooy căn cứ Tà Thiết âng tỉnh Bình Phước nắc vêy 20 héc ta k’tiếc vêy ta chóh pazêng rau t’nơơm n’loong váih p’lêê. Tước ooy zr’lụ crâng n’nâu, zập cha nắc ngoọ cơnh văl chô cớ ooy rau chr’nắp liêm cóh cr’chăl ty đanh ahay, bêl bơơn lêy cớ đợ t’nơơm n’loong ơy loóih cơnh t’nơơm trường, t’nơơm zong, t’nơơm đh’muônh… pazêng rau t’nơơm chr’nóh bêl ahay ắt lâng lang p’niên k’tứi âng bấc đhanuôr miền Đông Nam bộ, nắc nâu cơy ting t’ngay dưr bil cóh pazêng crâng k’coong.
Đhăm crâng n’nâu vêy t’coóh Nguyễn Quốc Ẩn, dzợ ng’đớc cơnh lơơng nắc t’coóh Tư c’noong k’tiếc – tỵ nắc muy manuýh bh’cộ tình báo quốc phòng chô đhêy hưu- chóh k’nặ 18 c’moo. Ting cơnh xay moon âng đoo, n’niên cóh đhăm k’tiếc miền Đông, ắt mamông, zâl arọp abhuy đhị Cắn cứ Tà Thiết, tự nắc căn cứ âng Bộ Tư lệnh Miền nắc ađoo ơy loóih lâng pazêng crâng k’coong cóh đâu. Bêl chô đhêy hưu, lêy cắh choom ắt mamông lâng đhr’năng k’uốih, đơớh hân đhị thành phố Hồ Chín Minh, ađoo nắc văl chô cớ ooy đhăm k’tiếc ty lâng bh’rợ t’mêê – nắc bh’rợ chóh crâng đhị đhăm k’tiếc đăn ooy căn cứ Tà Thiết. Nắc muy manuýh linh, ơy bơơn đươi dua đợ chr’nắp âng crâng k’coong, lướt z’lấh bh’rợ zâl arọp a bhuy công đươi vêy crâng zư lêy nắc ađoo t’bhlâng xay bhrợ rau âng đay kiêng: “Xoọc đêếc 1972 a cu lướt bộ đội cóh crâng n’nâu ting quân giải phóng. Đh’rứah cha, đh’rứah ắt lâng crâng. Xoọc đêếc cóh hân noo boo crêê pr’lúh k’hir bấc pa bhlâng, k’hir bhrợ tước bhộ luônh. Cóh c’xêê 3 cóh crâng vêy p’lêê p’coo. Nắc cắh vêy p’lêê hân noo công choom ng’cha. Vêy p’lêê n’loong u k’dụa, cha nắc a rụa luônh. Nắc đhiệp muy t’nơơm t’crô đuông nắc quân giải phóng moon nắc t’nơơm avị chrộ. C’moo 2000 chô cớ ooy đâu, hay ooy crâng. Bêl ahay đươi dua ooy crâng nắc dzợ hay ooy cr’chăl n’nắc nắc lướt ooy crâng chêếc m’ma chô ươm đoọng chóh bhrợ cơnh nâu cơy”.
Đoọng vêy đợ bha lắh crâng chóh lâng zập pazêng rau p’lêê crâng cơnh xoọc đâu, ađoo nắc ơy lướt cóh prang bha lắh crâng cóh truíh căn cứ Tà Thiết, chêếc pazêng t’nơơm n’loong chô chóh đoọng crêê cơnh lâng đhăm k’tiếc, pa trơơi t’bấc m’ma. Tước nâu cơy, ađoo cắh dzợ mặ hay c’la đay nắc ắt ha bấc t’ngay cóh crâng đoọng chêếc m’ma n’loong, xang n’nắc chô chóh pa liêm đhị bhươn t’nơơm chr’nóh âng đay, tu pazêng t’nơơm crâng n’nâu k’đháp ng’chóh. Nắc nâu cơy, lâng rau t’bhlâng, rau âng đay kiêng lâng lứch loom lâng crâng, ađoo nắc ơy chóh bhrợ liêm choom: “La lua zr’nắh k’đháp pa bhlâng, t’nơơm n’loong cóh pazêng c’moo tr’nơớp chô đơơng chóh nắc lứch ma răng chêết. Zập ngai k’noọ nắc buôn la lua cậ nắc k’đháp bhlâng. M’ma t’nơơm n’loong k’đháp đoọng ng’bơơn lêy, đươi đhi noo đhanuôr acoon cóh chêếc lêy. Cóh t’tun n’nâu bh’rợ pa choom bh’rợ, ơy bơơn n’năl nắc buôn pa bhlâng, t’nơơm chr’nóh doọ dzợ crêê pr’lúh, doọ lúc phân hoá học. Vêy êế a t’rí, c’roóc nắc bón ha t’nơơm chr’nóh”.
Prá xay lâng t’coóh Tư c’noong k’tiếc Nguyễn Ngọc Ẩn, bấc ngai bơơn n’năl ghít rau luôm luôn chắp kiêng crâng k’coong, bhơi cóh đâu âng đoo. Ađoo đớc pazêng t’nơơm n’loong nắc vêy đhơ la lay. Ađoo dzợ vêy bh’rợ cha chríh cắh đoọng ngai đh’léh đoong, pêếh pô âng t’nơơm n’loong. Đoo bêl tước ooy hân noo p’lêê độm tước n’tộ nắc ađoo vêy đoọng chơớih pay, cắh choom pêếh tơợ t’nơơm n’loong, tu a đoo k’pân n’loong crêê xơợng k’ăy. Rau đêếc công nắc rau tu m’bứi manuýh n’năl tước ooy bha lắh crâng chr’nắp n’nâu đhị Bình Phước, tu a đoo cắh kiêng zr’lụ crâng n’nâu âng đoo vêy bấc manuýh tước lêy, vêy cơnh nắc bhrợ ha n’loong k’ăy: “Chô đơơng t’nơơm n’loong chô chóh bhui har pa bhlâng. Bấc apêê t’coóh cóh truíh c’lâng mót ooy zập quán phở nắc lêy p’lêê zong chr’nắp pa bhlâng. Ađoo ta moóh p’lêê n’nâu tơợ ooy u váih. Acu ta ơơi nắc acu chóh a dếch ơi. Ađoo moon nắc đoọng a đay mót lêy crâng. P’lêê zong xoọc ahay bấc pa bhlâng nắc nâu cơy cắh dzợ lấh bấc. Bêl ahay vêy pr’hát P’lêê zong Bến Cát nắc Minh Cảnh hát, cóh đêếc vêy n’juông a mế lướt ooy chợ cắh choom ăt đanh. Bêl chô nắc a mế câl muy cr’xíc p’lêê zong. Acu đương xe óih glụ còi. Tước ooy ga đương a mế pay p’lêê zong cha cha ớh”.
18 c’moo chóh crâng đhị đhăm k’tiếc n’nâu, t’coóh Tư nắc liêm choom cóh bh’rợ zư đớc k’zệt rau t’nơơm p’lêê crâng n’nâu cóh bêl ahay nắc k’nặ dưr bil lứch cóh pazêng bha lắh crâng đhị zr’lụ tỉnh. Rau đêếc nắc cắh muy zư đớc đợ chr’nắp pr’hay đoọng ha manuýh lính n’niên cóh l’lăm c’xêê c’moo giải phóng, nắc dzợ đoọng ha lang k’coon ch’chau t’tun n’nâu bơơn n’năl đợ t’nơơm chr’nóh n’nâu. Rau đâu công nắc rau rơơm kiêng bấc pa bhlâng âng manuýh lính Bộ đội ava Hồ, công nắc manuýh bh’cộ chô đhêy hưu chroót pa chô nợ, pa chô rau chr’nắp pr’hay ha crâng, ooy muy cr’chăl Crâng p’lơớp bộ đội – Crâng ga ving arọp abhuy./.
Vị tướng già trả nghĩa cho rừng
Lê Na-Công Ninh
Sau nhiều năm sống, chiến đấu, gắn bó với mảnh đất Miền Đông gian lao mà anh dũng, 18 năm nay, một người lính Bộ đội cụ Hồ đã tự bỏ tiền túi đầu tư trồng rừng. Những loài cây rừng cho trái gắn liền với cuộc sống trong rừng của người lính những năm kháng chiến như cây cơm nguội, cây gùi, cây trường, cây ươi đã được trồng thành rừng như một cách người tướng già này lưu giữ những kỷ niệm của 1 thời chiến đấu anh dũng trên mảnh đất miền Đông.
Có lẽ ít ai biết được, tại mảnh đất gần căn cứ Tà Thiết của tỉnh Bình Phước lại có 20ha đất được đầu tư trồng các loại cây rừng cho trái. Đến với khu rừng này, mọi người như được quay trở lại kỷ niệm của một thời xưa cũ, khi gặp lại nhiều loại cây rừng quen thuộc như vú bò, cây trường, cây gùi, cây cơm nguội, cây ươi…- những loài cây đã từng 1 thời gắn bó với tuổi thơ của nhiều người dân miền Đông Nam bộ, mà nay đang dần biến mất tại những cánh rừng nguyên sinh.
Diện tích rừng này được ông Nguyễn Ngọc Ẩn, hay còn được gọi là ông Tư biên giới – vốn là 1 vị tướng tình báo quốc phòng về hưu- trồng gần 18 năm nay. Theo chia sẻ của ông, sinh ra trên mảnh đất Miền Đông, sống, chiến đấu tại Căn cứ Tà Thiết, vốn là căn cứ của Bộ Tư lệnh Miền nên ông đã quen với thiên nhiên, rừng xanh, cây lá. Khi về hưu, cảm thấy không thích hợp với cuộc sống náo nhiệt, gấp gáp tại TPHCM, ông quyết định trở lại vùng đất cũ, bắt đầu một “cuộc chiến mới” –cuộc chiến trồng rừng trên mảnh đất gần căn cứ Tà Thiết. Là người lính, đã từng ăn lộc của rừng, đi qua cuộc chiến cũng nhờ những cánh rừng che chở nên ông quyết tâm đeo đuổi đam mê của mình:“Hồi đó 1972 tôi nhập ngũ ở rừng này đi quân giải phóng. Cùng ăn, cùng ở với rừng. Hồi đó vào mùa mưa sốt rét dữ lắm, sốt rét to cả bụng. Vào tháng 3 thì trong rừng có trái cây. Nhưng không phải trái cây nào cũng ăn được. Có trái cây chua, ăn vô xót ruột. Chỉ có cây chùm đuông mà quân giải phóng gọi là cây cơm nguội. Năm 2000 lên đây lại, thương nhớ về rừng. Ngày xưa sống nhờ rừng nên nhớ về thời đó đi vô rừng kiếm giống về ươm rồi trồng cho tới ngày nay”
Để có được cơ ngơi là những rừng trồng với đủ các loại trái rừng như hiện nay, ông đã lặn lội khắp những cánh rừng dọc căn cứ Tà Thiết, tìm từng cây về chăm chút cho thích hợp với thổ nhưỡng, chăm sóc rồi tìm cách nhân giống. Đến bây giờ, ông không nhớ nổi bản thân mình đã có bao nhiêu ngày ăn rừng, ngủ rẫy để tìm cây giống, rồi đưa về chăm sóc tại vườn cây của mình, bởi những loài cây rừng này rất khó trồng. Nhưng hôm nay, với quyết tâm, niềm đam mê và cả tấm lòng đối với rừng, ông đã thành công:“Thật sự khó lắm cây rừng đưa về mấy năm đầu chết hết. Ai cũng tưởng dễ nhưng khó lắm. Giống cây rừng khó kiếm lắm, nhờ anh em người dân tộc đi kiếm nữa. Sau này nghề dạy nghề, biết rồi thì dễ lắm, cây không bị bệnh tật gì hết, không bón phân hóa học. có phân trâu phân bò gì là bón cho cây thôi”
Trò chuyện với ông Tư Biên giới Nguyễn Ngọc Ẩn, nhiều người sẽ cảm nhận được tình yêu của ông đối với từng cành cây, ngọn cỏ nơi đây. Ông gọi mấy cây rừng bằng "đứa". Ông còn được biết đến là người có cá tính lập dị khi không cho ai ngắt cành, hái hoa của cây rừng. Ngay cả khi đến mùa trái chín, chỉ khi trái rụng xuống ông mới cho nhặt chứ không được hái trực tiếp vì ông sợ chúng bị đau. Đó cũng là nguyên nhân mà ít người biết đến cánh rừng độc lạ này tại Bình Phước, bởi ông không muốn khu rừng này của ông được nhiều người đến thăm, rồi lỡ tay làm đau đến chúng:“Đem được cái cây về trồng vui lắm. Nhiều bà già dọc đường tui ghé dọc quán phở ăn chơi nhìn thấy trái gùi quý lắm. Bả hỏi trái gùi đâu có. Tui trả lời con trồng bà ơi. Bà nói cho bả vô thăm rừng. Trái gùi ngày xưa nhiều lắm giờ hổng còn nữa. Hồi đó có bài hát Trái gùi Bến Cát do Minh Cảnh ca, trong đó có đoạn Mẹ đi chợ chớ ở lâu. Bận về mẹ nhớ mua xâu trái gùi. Con chờ xe lửa kéo còi. Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi”
18 năm trồng rừng trên mảnh đất này, ông Tư đã thành công trong việc lưu giữ lại hàng chục loại trái rừng nay gần như đã biến mất trong những cánh rừng trên địa bàn tỉnh. Đó không chỉ để giữ lại ký ức cho những người sinh ra trước giải phóng, mà còn để cho những thế hệ con cháu đời sau cơ hội biết đến những loài cây, trái này. Đây cũng chính là mong muốn lớn nhất của người lính Bộ đội cụ Hồ, cũng là cách vị tướng về hưu trả nợ, trả ân nghĩa cho Rừng, về một thời “Rừng che bộ đội – Rừng vây quân thù”./.
Viết bình luận