Bha xră 2: Boo tuh ngân: Năc tu bh’rợ tr’nêng âng acoon ma nưih
Thứ ba, 00:00, 10/11/2020
Boo tuh ngân coh miền Trung bâc t’ngay ha nua choom moon năc muy bh’rợ âng plêêng k’tiêc la lay cơnh, năc c’leh ting t’ngay ting ghit âng râu tr’xăl âng plêêng k’tiêc tươc k’tiêc k’ruung hêê. N’đhơ cơnh đêêc, muy tu râu lơơng cớ choom ta nih ch’mêêt lêy năc đoo tu bh’rợ tr’nêng âng acoon ma nưih coh prang cr’chăl đanh âi bhrợ căh crêê liêm tươc crâng k’coong, tươc môi trường cơnh bhrợ pa hư crâng, bhrợ têng apêê dự án thủy điệnm bhrợ vàng, bhrợ chuôh… bhrợ t’vaih boo tuh, hr’lang hr’câh, tuh bhlong bh’nhăn ngân.

Dzợ hay g’luh col bâc ơl n’loong chr’năp đhị Tiểu khu 486, 487 âng crâng Khe Giữa, chr’val Kim Thủy, chr’hoong Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình tơợ tơơp c’moo đâu pa bhlâng ca ay loom. Đhị đâu, bâc ơl n’loong ga măc đanh ta k’ha riêng c’moo, cơnh bhlăng, h’rôông crêê ta col ha rưưng ha grưc. Leh đhị ta col pa hư đoọng lêy, crâng âi crêê pa hư đhị cr’chăl đanh. T’cooh Hồ Bảy, đha nuôr coh vel Mít,chr’val Kim Thủy, chr’hoong Lệ Thủy xay moon, bâc c’moo l’lăm crâng dzợ bâc n’loong chr’năp, nâu câi zêng ă ta col pa hư:“Crâng âng chr’val Kim Thủy năc crâng a bhuy liêm bhlâng, nâu câi tơợ dzợ vêy. Crâng a bhuy, pô phong lan, n’loong h’rôông, bhlăng. Nâu câi zêng ă u luech, zêng li lôc, căh dzợ crâng a bhuy a dzợ. Apêê đoo zêng col pa hư ha dợ choh keo lưch.”

Coh apêê tỉnh miền Trung, bâc bha lang crâng a bhuy năc công dzợ crêê ta pa hư. Bêl x’ría c’xêê 3 c’moo đâu, coh m’pâng  g’luh pa hư crâng lâh 100 mét khối n’loong chr’năp đhị crâng k’tiêc k’ruung Phong Nha – Kẻ Bàng xooc bhrợ môp loom đha nuôr năc cớ crêê apêê col pa hư lâh 2 hécta crâng abhuy coh toor crâng n’nâu.

T’mêê năc ki năc đhêêng muy bơr tu bhiêc xay moon ooy g’luh pa hư crâng a bhuy coh cr’chăl đăn đâu coh zr’lụ miền Trung. N’đhơ Thủ tướng âi vêy boop k’đươi “ k’đâp p’loọng crâng a bhuy” n’đhang k’dâng lêy, râu liêm choom tơợ apêê bha lang crâng âi bhrợ ha pêê pa hư crâng lâng năc n’đhơ cán bộ vêy bh’rợ zư lêy crâng công căh mă k’dhơợng loom đhị bh’rợ pa hư crâng.

Ting số liệu âng Tổng cục Lâm nghiệp, coh 4 c’moo tơợ 2016-2019, đhăm crâng crêê ta pa hư âi dzooc tươc k’noọ 7.300 ha. Cơnh đêêc, trung bình zâp c’moo a hêê crêê bil k’noọ 2.500 ha crâng, pa bhlâng năc coh zr’lụ miền Trung lâng Tây Nguyên. N’đhơ đợ mơ gâm ngut âng crâng xooc đâu âng k’tiêc k’ruung hêê năc lâh 42%, n’đhang đhăm crâng a bhuy năc đhêêng dzợ dâng 10% hớơ.

Ting chuyên gia lâm nghiệp, GS.TS Khoa học Nguyễn Ngọc Lung, Cục trưởng Cục pa dưr crâng, Bộ Nông nghiệp lâng Pa dưr vel bhươl l’lăm a hay, crâng a bhuy bơơn pa dưr bh’nơơn coh bh’rợ cha groong đhí, cha groong chr’hooi đac lâng chroi đoọng bhrợ pa đhur c’rơ âng đhí đhị apêê zr’lụ âng đhí a muốt lươt z’lâh: “ Crâng a bhuy vêy pr’đươi lâng gr’vơh gr’vơi, k’tiêc, đac, bhrợ pa xiêr râu tr’xăl âng plêêng k’tiêc. Đac bơơn crâng zư đơc lâng doó buôn tuh bhlong…. Pr’đươi âng crâng lâng môi trường năc căh choom xăl lâng râu.”

Muy râu choom p’ghit cớ năc, bâc c’moo ha nua, dhăm crâng a bhuy âi crêê bil tu bhrợ pa hư crâng lêt xa nay mơ 11%, dzợ k’noọ 90% năc tu xăl cr’noọ đươi dua crâng dhị apêê dự án bơơn ơơi đoọng. TS Đào Trọng Khanh, Phó Viện trưởng Viện K’đhợơng lêy crâng nhâm mâng đoọng năl:“Tu bha lâng l’lăm c’moo 2000 năc bhrợ têng căh vêy kế hoạch lâng pa hư crâng bhrợ ha rêê. N’đhơ cơnh đêêc dâng 10 c’moo đăn đâu năc 2 râu đêêc căh vêy tu bha lâng dzợ năc bh’rợ tr’xăl cr’noọ đươi dua k’tiêc crâng dzang apêê bh’rợ n’lơơng năc đoo tu bha lâng. La lua ahêê xooc lươt ta toọn, đơc cr’noọ râu liêm choom đhị l’lăm năc râu chr’năp.”

Tươc x’ría c’moo 2018, công zợ 37 tỉnh, thành phố coh prang k’tiêc pa gơi báo cáo k’đươi moon tr’xăl cr’noọ đươi dua crâng lâng k’tiêc crâng cơnh lâng k’noọ 3.000 dự án, ma mơ lâng pay 137.000 ha crâng, coh đêêc veye k’noọ 32.000 ha crâng a bhuy. Lâng năc, coh bâc dự án âng apêê vel đong k’đươi năc apêê dự án thủy điện k’tứi, bhrợ vàng, chuôh, bhrợ du lịch, … âi ga ría pay k’rơ bhâu ha crâng a bhuy.

Liên hiệp apêê Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam pa chăp lêy, đoọng bhrợ t’vaih 1MW điện tơợ thủy điện, năc choom pay hăt bhlâng 10 hecta crâng, đoọng vêy bơơn 1.000 ha bhrợ thủy điện, ra li 1000-2000 ha k’tiêc ăt coh tu k’ruung đoọng bhrợ c’lâng đơơng âng. Cơnh lâng bhrợ pa chăp n’nâu, năc k’ha riêng dự án thủy điện k’tứi  lâng k’tứi bhlâng âi xay bhrợ coh miền Trung, Tây Nguyên âi pay k’rơ bhâu ha crâng, pa bhlâng năc crâng a bhuy.

Ting GSTS khoa học Nguyễn Đức Ngữ, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn l’lăm a hay, bêl bhrợ thủy điện buôn cr’đơơng căh liêm ooy k’tiêc, bhrợ bil crâng, bhrợ hr’lang k’tiêc, tuh bhlong bh’nhăn ngân lâh:“Thủy điện bhrợ căh liêm ooy crâng k’tiêc cơnh cha groong râu hooi âng đac, bhrợ a boc k’độ đac ga măc lâng bhrợ bil muy đhăm crâng ga măc. Bh’rợ pa hư crâng cơnh đêêc năc zêng k’rong bêl boo ngân, buôn bhrợ pa hư zâp râu cha groong truih c’lâng, bhrợ pa zêng bha đưn da ding hr’lang hr’câh…”

Lâh 20 c’moo ha nua, bâc ơl apêê dự án thủy điện âi bơơn quy hoạch lâng bhrợ têng bâc ơl coh miền Trung, Tây Nguyên. Đhêêng coh truih k’ruung Vu Gia- Thu Bồn công vêy tươc lâh 40 thủy điện. T’cooh Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam xay moon, râu liêm crêê đơơng đoọng năng lượng năc căh ha mơ, n’đhang cr’đơơng râu căh liêm crêê âng thủy điện k’tứi pa bhlâng ngân:“ Thủy điện k’tứi bhrợ căh liêm crêê cơnh đâu, muy năc pa hư crâng, bơr năc bhrợ c’lâng c’tôch moot pa hư crâng, pêê năc bhậ bha nâ bhrợ căh liêm buôn ha vooh, bhrợ nong tuh.”

Căh muy cơnh đêêc, râu bhrợ bâc ơl thủy điện k’tứi đhị miền Trung cr’chăl đăn đâu âi lâng xooc bhrợ đhr’năng nong lit dưr vaih ngân lâh. Ting Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp lâng Pa dưr pa xơc vel bhươl Nguyễn Hoàng Hiệp, bâc a boc  thủy điện ga măc k’tứi đhị miền Trung căh veye đhr’năng cha groong tuh, bêl đac chô tươc apêê tổ máy pa ang điện năc u hooi tih ooy pic.“Cơnh lâng apêê thủy điện k’tứi căh veye pr’đươi đoọng cha groong tuh. Nâu đoo năc râu ga măc. Thủy điện cha hooi đac  l’lăm bêl đac tuh, lâng căh âi năl ghit apêe thủy điện âi bhrợ ting quy trình n’năc Tu ahêê căh âi bhrợ têng liêm ta nih choom vêy pr’đươi đăng lêy đợ đac tuh cha hooi âng k’tiêc k;ruung hêê.”

Căh muy vêy thủy điện, năc bâc c’moo ha nua, k’ha riêng ha crâng a bhuy âi crêê li lôc, bil tic đoọng đơc đhị ha pêê dự án pa dưr tr’mông tr’meh cơnh choh cao su, bhrợ du lịch, bhrợ vàng, chuôh…

Dhị đâu k’noọ 10 c’moo, đươi dua chủ trương p’too moon bh’rợ bhrợ t’bhưah đhăm cao su đhị apêê crâng căh liêm, năc coh Tây Nguyên, vêy tươc k’noọ 80% đhăm bhrợ t’bhưah choh cao su năc crâng a bhuy xăl. Xang năc đợ dự án bhrợ têng chuôh văr đhộ ooy cr’loọng da ding k’ha riêng met bhrợ t’vaih  đợ ch’đhung đac ga măc, dông coh piing tuh k’ruung, bhrợ tuh hor, bhrợ cr’pân ha pêê vel bhươl coh pic. GS.TS Trần Nghi, Khoa địa chất, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội xay moon:“Tu âng hr’lang năc tu lưu vực thủy văn, dòng chảy, pa zum lâng tran, crêê pa hư crâng, bhrợ vang, chuôh âi bhrợ ha tuh bh’nhăn hor. Ha dang n’loong n’cuông vêy năc công vêy âh tuh n’đhơ cơnh đêêc doó lâh u ngân.”

“ Cha cr’van âng crâng căh vêy u buôn, boo tu ting t’ngay ting ngân, roop n’zâu năc công tu ahêê âi lâng xooc ăt zâng tu bh’rợ tr’nêng căh liêm crêê âng heê coh bâc c’moo đoọng pa dưr tr’mông tr’meh, pa chô râu liêm crêê đhị măt. Bêl căh dzợ vêy râu cha groong ta lơơc âng crâng ca coong, năc đợ tuh bhlong, đhí boo năc ma nưih hêê ăt zâng./.

Bài 2: Thiên tai dữ dội:

trả giá cho những hành động của con người

                                                Nhóm PV Hương Lan, Đình Trung

                                                                                                             và PV thường trú khu vực miền Trung

Mưa lũ dữ dội ở miền Trung những ngày qua có thể nói là một hình thái thời tiết thiên tai dị thường, là biểu hiện ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu ảnh hưởng nặng nề đến nước ta. Thế nhưng, một nguyên nhân khác cần được nghiêm túc nhìn nhận đó là chính những hành động của con người trong suốt một thời gian dài đã tác động đến tự nhiên, đến môi trường như nạn phá rừng, triển khai các dự án thủy điện, khai khoáng… làm biến đổi dòng chảy, thay đổi địa chất, … khiến mưa lũ, sạt lở, lũ quét dữ dội, nặng nề thêm. Nhóm PV Hương Lan, Đình Trung và PV thường trú khu vực miền Trung tiếp tục phân tích nội dung này với bài 2 nhan đề: “Thiên tai dữ dội: trả giá cho những hành động của con người” trong Loạt bài: “Thiên tai và nhân họa – Nhìn từ trận lũ lịch sử miền Trung”.

Còn nhớ vụ đốn hạ hàng loạt cây gỗ quý tại Tiểu khu 486, 487 thuộc rừng Khe Giữa, xã Kim Thủy, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình từ đầu năm nay thật xót xa. Tại đây, hàng loạt cây gỗ cả trăm tuổi, đường kính 2 người ôm không xuể như lim, gõ, táu bị đốn hạ, nằm la liệt. Dấu vết hiện trường cho thấy, rừng đã bị tàn phá một thời gian dài. Ông Hồ Bảy, người dân ở Bản Mít, xã Kim Thủy, huyện Lệ Thuỷ than phiền, mấy năm trước rừng còn nhiều gỗ quí, bây giờ chặt trụi hết rồi: “Rừng của xã Kim Thuỷ là rừng thiên nhiên đẹp nhất, chừ còn mô nữa. Rừng thiên nhiên, hoa phong lan, cây gõ, lim táu là rừng đinh luôn. Giờ tan tành hết, toàn là đồi trọc, chứ không còn rừng thiên nhiên nữa. Họ đốn hạ một lúc vài cây rồi bắt đầu họ trồng keo hết.”

Ở các tỉnh miền Trung, những cánh rừng tự nhiên vẫn không thôi “chảy máu”. Hồi cuối tháng 3 năm nay, giữa lúc vụ tàn phá hơn 100 mét khối gỗ mun tại vùng lõi Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng đang làm nóng dư luận thì lâm tặc tiếp tục ngang nhiên triệt hạ hơn 2 hécta rừng tự nhiên trong vùng đệm của khu Vườn này.

Vừa rồi chỉ là một vài vụ việc điển hình về chặt phá rừng tự nhiên thời gian gần đây ở khu vực miền Trung. Mặc dù Thủ tướng đã có lệnh “đóng cửa rừng tự nhiên” nhưng dường như, sức hấp dẫn của lợi nhuận từ những rừng đã khiến lâm tặc và cả những cán bộ với chức trách được giao giữ rừng lại tiếp tay cho việc phá rừng.

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, trong 4 năm từ 2016-2019, diện tích rừng bị thiệt hại đã lên tới gần 7.300ha. Như vậy, trung bình mỗi năm chúng ta mất đi gần 2.500 ha rừng, đặc biệt ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Mặc dù độ che phủ rừng hiện nay của nước ta là hơn 42%, nhưng diện tích rừng tự nhiên còn lại chỉ khoảng 10%.

Theo chuyên gia lâm nghiệp - GS TSKH Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Phát triển Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT, rừng tự nhiên phát huy hiệu quả trong việc chắn gió, cản sức nước và góp phần làm suy yếu sức mạnh của gió tại các vùng mà bão đi qua: “Rừng tự nhiên có tác dụng to lớn đối với không khí, đất, nước, giúp làm giảm tác động của biến đổi khí hậu. Nước được rừng thẩm thấu và giữ lại, tranh lũ lụt… Tác dụng của rừng với môi trường là không gì thay thế được.”

Một điều đáng lưu ý là, những năm qua, diện tích rừng tự nhiên đã bị mất do chặt phá rừng trái pháp luật mất chiếm 11%, còn gần 90% là do chuyển mục đích sử dụng rừng tại những dự án được duyệt. TS Đào Trọng Khanh, Phó Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho biết: “Nguyên nhân chủ yếu trước năm 2000 là khai thác không có kế hoạch và phá rừng làm nương rẫy. Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây thì 2 yếu tố đó không phải là nguyên nhân chính nữa mà việc chuyển mục địch sử dụng đất rừng sang các lĩnh vực khác là nguyên nhân chính. Thực sự chúng ta đang đi ngược lại, đặt mục đích kinh tế lên hàng đầu.”

Đến cuối năm 2018, vẫn có 37 tỉnh, thành phố trên cả nước gửi báo cáo đề nghị chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng với gần 3.000 dự án, tương đương với lấy đi 137.000 ha rừng, trong đó có gần 32.000 ha rừng tự nhiên. Và dĩ nhiên, trong những dự án mà các địa phương đề nghị là các dự án thủy điện nhỏ, khai thác khoáng sản, làm du lịch,… đã “ngoạm” vào hàng ngàn héc ta rừng tự nhiên.

Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tính toán, để tạo ra 1MW điện từ thủy điện, thì phải lấy đi ít nhất 10ha rừng, để có được 1.000ha làm thủy điện, phải san bằng 1.000 -2.000 ha đất ở thượng nguồn để làm đường vận chuyển. Với cách tính này, thì với hàng trăm dự án thủy điện vừa và nhỏ đã triển khai ở miền Trung, Tây Nguyên đã lấy đi hàng ngàn héc ta rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên. 

Theo GS TSKH Nguyễn Đức Ngữ, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn, khi xây dựng thủy điện sẽ tác động vào địa chất, gây mất rừng, khiến cho sạt lở và lũ quét trở nên dữ dội hơn: “Thủy điện tác động vào tự nhiên như ngăn dòng chảy, xây hồ chưa nước lớn và làm mất đi một diện tích rừng lớn. Việc phá rừng như vậy tập trung khi nước mưa lớn rất nhanh, sẽ phá hủy tất cả vật cản trên đường, toàn bộ đồi núi bị sạt lở…”

Hơn 20 năm qua, hàng loạt các dự án thủy điện đã được quy hoạch và xây dựng ồ ạt tại miền Trung- Tây Nguyên. Riêng trên hệ thống sông Vu Gia- Thu Bồn cũng có tới trên 40 công trình thủy điện. Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, lợi ích cung cấp năng lượng thì không được bao nhiêu, nhưng tác hại của thủy điện nhỏ lại rất lớn: “Thủy điện nhỏ có tác hại thế này, một là phá rừng, thứ 2 làm đường vào cũng phá cây phá cối, thứ 3 làm đập mà đập các thủy điện nhỏ không phải đập tốt, vỡ đập cái là cũng gây ra lụt.”

Không những thế, sự phát triển ồ ạt thủy điện nhỏ tại khu vực miền Trung thời gian qua đã và đang khiến tình trạng ngập lũ trở nên trầm trọng hơn. Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp, nhiều hồ thủy điện dung tích nhỏ tại miền Trung không có khả năng phòng lũ, cắt lũ, khi nước về qua các tổ máy phát điện sẽ trực tiếp tràn xuống hạ du: “Với các thủy điện nhỏ nó không có dung tích phòng lũ. Đây là câu chuyện rất là lớn. Thủy điện phải xả nước trước khi đón lũ, mà với chưa chắc các thủy điện đã làm theo quy trình đó. Bởi vì chúng ta chưa thực hiện nghiêm câu chuyện phải có thiết bị đo lưu lượng xả đến và đi của nước và chuyển các số liệu đó đến các nhà quản lý. Chính vì không làm được những cái đó nên mình không thể biết được các hò thủy điện có xả hay không xả.”

Không chỉ có thủy điện, mà bao năm qua, hàng ngàn héc ta rừng tự nhiên đã bị cạo trọc, biến mất để nhường chỗ cho các dự án phát triển kinh tế xã hội như trồng cao su, làm du lịch, khai thác khoáng sản….

Cách đây gần 10 năm, lợi dụng chủ trương khuyến khích việc mở rộng diện tích cao su trên những vùng rừng nghèo kiệt, mà ở Tây Nguyên, có đến gần 80% diện tích mở rộng trồng cao su là đất rừng tự nhiên chuyển đổi. Rồi những dự án khai thác khoáng sản khoét sâu vào lòng núi hàng trăm mét tạo thành những túi nước khổng lồ, treo lơ lửng trên thượng nguồn, gây lũ ống, lũ quét, đe dọa các bản làng dưới hạ du. GS TS Trần Nghi, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích: “Nguyên nhân của sạt lở là do lưu vực thủy văn, dòng chảy, cộng với độ dốc, bị chắt phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi góp thêm, tăng nặng lũ quét. Nếu cây cối có thì vẫn có thể xảy ra lũ nhưng sẽ giảm nhẹ hơn.” 

“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”.

Mưa lũ, thiên tai ngày một nặng nề, phải chăng đó cũng những gì chúng ta đã và đang phải trả giá cho những hành động của mình khi đánh đổi, tàn phá thiên nhiên trong suốt nhiều năm để phát triển kinh tế, thu lợi trước mắt. Khi không còn vòng tay che chở của đại ngàn, trước những cơn cuồng nộ của thiên nhiên, con người đã phải trả giá bằng cả cuộc sống của mình./.

 

 

 

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC