K’OOL QUẢNG ĐỨC – C’LEH MUY VÊÊL BH’RỢ ĐHỊ TOỌM K’RUUNG CÁI
Thứ sáu, 11:57, 28/08/2026 CTV Lê Biết CTV Lê Biết
Đhị toọm k’ruung Cái, vêêl Quảng Đức k’đhơợng đơc c’leh âng muy bh’rợ k’ool âi vaih đanh đhị bâc thế kỷ. Bâc đong boh ty, bha nụ ra pă đhơơn pr’đươi, đợ bh’nơơn k’ool dzợ zư đơc coh apêê pr’loọng đong lâng pa bhlâng năc clang piêng p’têêt lâng n’căr abhiếu âi chroi đoọng bhrợ t’nil bơơn năl c’bhuh k’ool đơơng âng c’leh đhăm k’tiêc Phú Yên ahay

Bh’rợ k’ool nâu câi âi bil pât, bâc z’hai căh dzợ bơơn zư đơc, n’đhang t’ruih ooy muy vêêl bh’rợ âi ting ăt ma mông lâng pr’ăt tr’mông lâng tr’câl tr’bhlêy âng đha nuôr miền Trung công dzợ ăt liêm

 

 

Quảng Đức năc muy đhị bha nụ đha nuôr lang ahay ma mông coh zr’lụ pic k’ruung Cái, dưr vaih coh cr’chăl tal prưah đhăm k’tiêc Phú Yên x’ría thế kỷ 16, tơơp thế kỷ 17, p’têêt lâng g’luh khai khẩn âng Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh.

Đhị zr’lụ Quảng Đức, k’ruung Cái pac vaih bơr m’bang: m’bang bha lâng năc hooi chô n’đăh Đông Bắc, n’toh ooy clong Xuân Đài; muy m’bang n’lơơng năc chô hooi n’đăh Nam, đơơng đh’nơc k’ruung Hà Yến, chô n’toh ooy clong Ô Loan. Vêêl ăt đhị n’dup dzung A Man, chô n’đăh p’lêêh pêê k’ruung – muy đhị bơơn apêê đong pa chăp ch’mêêt lêy moon năc đhị “k’rong đac – pa zum da ding”.

Đhị n’năc bhrợ t’vaih pr’đơợ đoọng đha nuôr đơơh ăt ma mông, tr’câl tr’bhlêy lâng dưr vaih apêê bh’rợ thủ công. Coh đêêc vêy bh’rợ taanh bhai lâng bh’rợ k’ool. Tươc đâu, c’leh bh’rợ ahay công dzợ dưr vaih coh cr’noọ loom âng apêê pr’loọng đong ting vêy bâc lang bhrợ k’ool.

“Da dich cu truih, bêl ahay coh vêêl n’nâu muy bhrợ k’ool ha măng. Tơợ dăng, zợ, c’thau, zr’hố, bâc râu. Đhi noo, c’bhuh xoọng coh vêêl k’dâng lêy zâp đong công bhrợ k’ool zêng”.

“20 c’moo tơơp giải phóng, bêl đêêc vêy bhrợ zr’hố, zâp râu apêê c’thau. Bêl đêêc đha nuôr dzợ đươi dua tu cơnh đêêc bhrợ têng bâc bhlâng”.

Bâc râu xay truih đoọng lêy, k’ool âi ting p’têêt lâng pr’ăt tr’mông âng bâc lang đha nuôr Quảng Đức.

Ting apêê pa chăp ch’mêêt lêy lịch sử lâng khảo cổ, bh’rợ k’ool Quảng Đức âi vaih tơợ dâng thế kỷ XVII tươc tơơp thế kỷ XX. Tơợ muy bh’rợ thủ công vêêl đong, bh’nơơn k’ool bơơn zư đơc coh miền Trung, zr’lụ Trường Sơn – Tây Nguyên lâng apêê zr’lụ n’lơơng. Muy bơr bh’nơơn dzợ bơơn chơơc lêy đhị apêê bhuông, chroi đoọng pr’đơợ ooy bh’rợ tr’câl tr’bhlây âng c’bhuh k’ool truih k’ruung Cái.

N’đhang cơnh lâng apêê đong pa chăp ch’mêêt lêy, chr’năp âng Quảng Đức dzợ ăt đhị apêê c’leh âng muy vêêl bh’rợ ty. Đong pa chăp ch’mêêt lêy lịch sử - văn hóa Nguyễn Danh Hạnh đoọng năl:

“Ch’mêêt lêy coh vêêl Quảng Đức năc ahêê bơơn lêy dzợ bâc c’leh âng muy bh’rợ k’ool âi vêy tơợ đanh. Pa bhlâng năc, đhị n’dup dzung da ding vêy lum bâc bha nụ k’rong đơc c’bhuh pr’đươi. Bâc c’moo ahay, đhị đâu đanh dâng 10-15 c’moo, bêl ch’mêêt lêy coh vêêl Quảng Đức năc a zi dzợ bơơn lêy muy bơr c’leh ta pêêh boh cơnh tr’đuôh coop. Năc đoo bâc cơnh ta pêêh boh pa bhlâng đanh”.

Bâc zr’lụ k’rong đơc k’ool, c’leh ta pêêh boh lâng apêê t’clăh bh’nơơn ăt đhị coh cr’loọng k’tiêc dưr vaih bâc “ta la sử” chr’năp. Đhị đêêc, apêê đong pa chăp ch’meêt lêy choom chơơc truih lêy cr’chăl bhrợ t’vaih lâng pa dưr, tr’xăl âng muy bh’rợ thủ công p’têêt lâng đha nuôr ăt ma mông zr’lụ piic k’ruung Cái.

Đhị hội thảo khoa học “Zư đơc lâng pa dưr chr’năp K’kir văn hóa k’ool Quảng Đức” âng Bảo tàng Phú Yên lâng Ban k’đhơợng lêy Công viên địa chất Phú Yên bhrợ têng, apêê đong k’đhơợng lêy, chuyên gia lâng giảng viên đại học t’bhlâng bhrợ pa ghit bâc chr’năp lịch sử, văn hóa lâng khảo cổ âng vêêl k’ool

GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng K’kir K’tiêc k’ruung, đoọng năl, chr’năp choom p’ghit âng k’ool Quảng Đức ăt đhị râu pa zum bhlưa pr’đươi vêêl đong lâng bh’riêl bhrợ t’vaih âng ma nưih thợ.

“Liêm pr’hay âng c’bhuh k’ool n’nâu năc đợ chr’năp đơơng âng vêêl đong, bh’rợ bh’riêl g’lăng, p’têêt lâng cr’chăl bhrợ t’vaih âng zr’lụ vêêl đong n’đăh Nam âng apêê chúa Nguyễn coh Đàng Trong. Pa bhlâng năc bh’rợ đươi dua bâc pr’đươi âng vêêl đong, âng đhăm k’tiêc bhlâng, âng biển, âng oih lâng âng đhí, đh’rưah lâng râu bhriêl g’lăng âng acoon ma nưih đoọng bhrợ t’vaih bh’nơơn k’ool. Bh’rợ đươi dua tr’đuôh abhiếu đoọng bhrợ t’vaih bh’nơơn bhrợ ha zâp bh’nơơn vêy chr’năp nghệ thuật la lay. Năc đoo năc muy coh bâc chr’năp pa bhlâng pr’hăt liêm âng k’ool Quảng Đức”.

Coh bâc c’leh bơơn năl k’ool Quảng Đức, clang men vêy c’leh tr’đuôh abhiếu bơơn apêê đong pa chăp ch’mêêt lêy pa bhlâng k’rang tươc. Nâu đoo năc muy pr’đơợ p’têêt lâng z’hai bhrợ têng lâng đợ pr’đươi âng vêêl đong, chroi đoọng bhrợ t’vaih pr’dưr pr’dzoọng la lay âng c’bhuh k’ool n’nâu coh pa chăp ch’mêêt lêy k’ool Việt Nam.

PGS.TS Đặng Văn Thắng, Trưởng Bộ môn Khảo cố học, Trường Đại học Khoa học Xã hội lâng Nhân văn TP.HCM, đoọng năl năc kiêng choom t’bhlâng pa chăp ch’mêêt lêy pa ghit zr’lụ boh k’ool đoọng xay moon mơ đanh, kỹ thuật bhrợ têng lâng đợ apêê pr’đươi.

“L’lăm năc choom ch’mêêt lêy, khai quật zr’lụ boh k’ool đoọng xay moon mơ đanh. Râu bơr năc lâng khoa học kỹ thuật xay moon lêy men tr’đuôh a bhiếu bơơn bhrợ t’vaih ng’cơnh, k’tiêc ng’cơnh, đoọng brương tr’nu vêy choom zooi đha nuôr chơơc lêy cớ râu k’tiêc n’năc lâng rach pa dưr bh’rợ”.

Bh’rợ k’ool Quảng Đức t’ngay đâu căh dzợ bơơn zư đơc cơnh ahay. Muy bơr kỹ thuật âi lâh bil pât, zr’lụ boh năc đhêêng muy leh hơớ, đợ bh’nơơn mơ dzợ năc bơơn zư đơc coh bảo tàng, c’bhuh k’rong đơc lâng cr’noọ coh loom đha nuôr.

N’đhang tơợ apêê râu dzợ vêy, muy bh’rợ zư đơc xooc bơơn t’vaih. Coh đề án bhrợ pa dưr Công viên địa chất Phú Yên pa chăp tươc đh’nơc chr’năp Công viên địa chất prang bha lang k’tiêc UNESCO, k’ool Quảng Đức bơơn apêê chuyên gia k’đươi moon đơơng t’moot ooy c’bhuh điểm k’kir văn hóa.

Tơợ k’tiêc, oih lâng tr’pang têy ma nưih thợ, k’ool Quảng Đức âi dưr vaih muy pâng coh cr’noọ âng đha nuôr truih k’ruung Cái. Bâc c‘leh dzợ vêy nâu câi căh muy đoọng truih t’ruih ooy muy bh’rợ thủ công âi lươt z’lâh c’moo c’xêê, năc dzợ zư đơc muy pâng lịch sử văn hóa âng đhăm k’tiêc Phú Yên a hay – đợ chr’năp xooc bơơn chơơc lêy cớ, zư đơc lâng pa choom đoọng ha lang t’tun./.

GỐM QUẢNG ĐỨC - DẤU TÍCH MỘT LÀNG NGHỀ BÊN DÒNG SÔNG CÁI

Bên dòng Sông Cái, làng Quảng Đức lưu giữ dấu tích của một nghề gốm đã tồn tại qua nhiều thế kỷ. Những lò nung xưa, bãi thải hiện vật, những sản phẩm gốm còn lưu truyền trong các gia đình và đặc biệt là lớp men gắn với vỏ sò huyết đã góp phần nhận diện một dòng gốm mang đậm dấu ấn vùng đất Phú Yên xưa. Nghề gốm nay đã mai một, nhiều kỹ thuật không còn được truyền lại, nhưng câu chuyện về một làng nghề từng gắn với đời sống và giao thương của cư dân miền Trung vẫn còn nguyên giá trị

 

Quảng Đức là một tụ điểm dân cư cổ ở vùng hạ lưu Sông Cái, hình thành trong quá trình khai phá, mở mang vùng đất Phú Yên cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, gắn với công cuộc khai khẩn của Phù Nghĩa Hầu Lương Văn Chánh.

Tại khu vực Quảng Đức, Sông Cái chia thành hai nhánh: dòng chính chảy về hướng Đông Bắc, đổ vào vịnh Xuân Đài; một nhánh khác chảy về phía Nam, mang tên sông Hà Yến, đổ vào đầm Ô Loan. Làng nằm dưới chân núi A Man, hướng ra ngã ba sông - một không gian được các nhà nghiên cứu gọi là nơi “hội thủy - hội sơn”.

Vị trí ấy tạo điều kiện để cư dân sớm định cư, giao thương và hình thành các nghề thủ công. Trong đó có nghề dệt lụa và nghề làm gốm. Đến nay, dấu tích nghề xưa vẫn hiện diện trong ký ức của những gia đình từng có nhiều thế hệ làm gốm.

“Bà nội kể, hồi xưa ở làng này làm đồ gốm không à. Nào là chum, chậu, muỗng, nhiều lắm. Anh chị em, họ hàng trong làng hầu như nhà nào cũng làm gốm.”

“20 năm đầu sau giải phóng, lúc đó có làm muỗng đường, tất cả các loại chậu. Lúc đó người dân còn sử dụng nên sản xuất nhiều.”

Những lời kể cho thấy gốm từng gắn chặt với đời sống và sinh kế của nhiều thế hệ cư dân Quảng Đức.

Theo các nghiên cứu lịch sử và khảo cổ, nghề gốm Quảng Đức đã tồn tại từ khoảng thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Từ một nghề thủ công địa phương, sản phẩm gốm được lưu thông ở miền Trung, vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và các khu vực khác. Một số sản phẩm còn được tìm thấy trên những con tàu đắm, góp thêm cứ liệu về hành trình giao thương của dòng gốm ven Sông Cái.

Nhưng với các nhà nghiên cứu, giá trị của Quảng Đức còn nằm ở những dấu tích của một làng nghề cổ. Nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Nguyễn Danh Hạnh cho biết:

“Khảo sát ở làng Quảng Đức thì chúng ta thấy rằng còn rất nhiều dấu tích của một nghề làm gốm có từ lâu đời. Đặc biệt, dưới chân núi có gặp rất nhiều bãi thải hiện vật. Những năm về trước, cách đây khoảng 10 - 15 năm, khi khảo sát ở làng Quảng Đức thì chúng tôi còn nhìn thấy một số dấu vết lò nung dạng mu rùa. Đó là những kiểu lò nung rất cổ xưa.”

Những bãi thải gốm, dấu tích lò nung và các mảnh sản phẩm nằm lại trong lòng đất trở thành những “trang sử” đặc biệt. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể lần tìm quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của một nghề thủ công gắn với cư dân vùng hạ lưu Sông Cái.

Tại hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa gốm Quảng Đức” do Bảo tàng Phú Yên và Ban Quản lý Công viên địa chất Phú Yên tổ chức, các nhà quản lý, chuyên gia và giảng viên đại học tiếp tục làm rõ những giá trị lịch sử, văn hóa và khảo cổ của làng gốm.

GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia, cho rằng giá trị đáng chú ý của gốm Quảng Đức nằm ở sự kết hợp giữa nguyên liệu bản địa và sức sáng tạo của người thợ.

“Độc đáo của dòng gốm sứ này là những giá trị mang tính bản địa, tinh thần sáng tạo, gắn liền với quá trình khai mở của vùng đất phương Nam của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đặc biệt là việc sử dụng những chất liệu của địa phương, của đất liền, của biển, của lửa và của gió, cùng với sự sáng tạo của con người để tạo ra sản phẩm gốm sứ. Việc sử dụng sò huyết để tạo nên sản phẩm khiến mỗi sản phẩm có giá trị nghệ thuật riêng. Đấy là một trong những giá trị rất độc đáo và đặc sắc của gốm Quảng Đức."

Trong những dấu hiệu nhận diện gốm Quảng Đức, lớp men có dấu vết vỏ sò huyết được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Đây là một đặc điểm gắn với kỹ thuật chế tác và nguồn nguyên liệu bản địa, góp phần tạo nên diện mạo riêng của dòng gốm này trong nghiên cứu gốm sứ Việt Nam.

PGS.TS Đặng Văn Thắng, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu kỹ khu vực lò gốm để xác định niên đại, kỹ thuật chế tác và thành phần nguyên liệu.

“Trước hết phải tiến hành khảo sát, khai quật kỹ khu lò gốm để xác định niên đại. Thứ hai là bằng khoa học kỹ thuật phân tích men sò huyết được tạo ra như thế nào, đất như thế nào, để sau này có thể giúp người dân tìm lại loại đất đó và phục hồi nghề.”

Nghề gốm Quảng Đức hôm nay không còn giữ được diện mạo xưa. Một số kỹ thuật đã thất truyền, lò nung chỉ còn dấu tích, những sản phẩm còn lại được lưu giữ trong bảo tàng, bộ sưu tập và ký ức của người dân.

Nhưng từ những gì còn lại, một hành trình bảo tồn đang được mở ra. Trong đề án xây dựng Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, gốm Quảng Đức được các chuyên gia đề xuất đưa vào hệ thống điểm di sản văn hóa.

Từ đất, lửa và bàn tay người thợ, gốm Quảng Đức đã trở thành một phần ký ức của cư dân ven Sông Cái. Những dấu tích còn lại hôm nay không chỉ kể câu chuyện về một nghề thủ công đã đi qua thời gian, mà còn lưu giữ một phần lịch sử văn hóa của vùng đất Phú Yên xưa - những giá trị đang được tìm lại, bảo tồn và trao truyền cho mai sau./.

CTV Lê Biết

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC