Đương hơnh a zi coh đhr’nong đong đh’rơơng t’mêê coh đhị đhăm k’tiêc ăt ty, p’căn Bhnướch Thị Đói ăt coh vel Ta Lang, chr’val Bha Lêê, chr’hoong Tây Giang, tỉnh Quảng Nam căh mă p’lơơp râu bhui har hâng hơnh. A vac moon, lâh 70 c’moo âi cơnh dic điêl a va vêy đong nhâm mâng, ca coon cha chau zăng rup, pr’ăt tr’mông yêm têêm, căh râu hâng hơnh lâh n’năc dzợ. A va Đói ta luôn hay ooy muy cr’chăl zêl a râp zr’năh xr’dô. A va truih, t’ngay n’năc, đha nuôr zr’lụ da ding ca coong buôn bhrợ đong coh n’dup crâng, chr’ngai đoọng g’đach a râp. Pr’ăt tr’mông ha ul zr’năh, ăt z’moh lâng râu chêêt bil n’đhang đha nuôr Cơ Tu công muy loom ting Đảng, ting A va Hồ, ga bọ vel, zư lêy bhươl. Ma nưih t’cooh năc chíah rap, đăc biêng; ha dợ apêê p’niên cơnh a va năc ting pâh guy hang, bhrợ giao liên, bhrợ c’lâng, guy cha răh, đơơng đoọng ha chiến trường miền Nam… Xang n’năc coh m’pâng t’ngay zêl pruh a râp zr’năh xr’dô n’năc, a va lum k’dic đoo, mị a nhi đoo tr’pay. K’tiêc k’ruung bơơn yêm têêm, dic điêl a va rach chô lâng vel đong coh a chăc đơơng bang bh’rêy n’đhang anhi đoo công dzợ dh’rưah lươt ha rêê, choh a roo, a bhoo, băn 6 p’nong ca coon xrông pậ. Apêê t’ngay t’mêê giải phóng zr’năh k’đhap bhlâng n’đhang a va Bhnướch Thị Đói ta luôn mâng loom vel đong vêy tr’xăl t’mêê, pr’ăt tr’mông âng đha nuôr Cơ Tu doó dzợ ha ul zr’năh: “L’lăm a hay căh vêy râu rí, năc muy bươm a rong, vic cha bhơi r’veh. Boo đhí công p’zay lươt t’bơơn bhơi r’veh, a rong, ngô, băn a tuch, a oc… chô đơơng pa câl, pay zên câl a xiu đăh, nâu câi năc z’zăng lâh mơ, vêy du lịch apêê đoo công đương hơnh t’mooi tươc vel, vêy điện ang liêm. Zâp đoo ngai công vêy a vị cha, vêy ti vi, xe cộ, doó dzợ pr’loọng ha ul.”
Râu mâng loom lâng rơơm kiêng âng a va Bhnươch Thị Đói âi dưr vaih la lua. Vel Ta Lang, ăt đhị toor toọm Chơr Lang hooi za đoc nâu câi âi dưr vaih đhị tươc la lêy vel bhươl tr’haanh, bơơn t’mooi prang đhị tươc. T’cooh A rất Típ, Bí thư Huyện ủy Tây Giang l’lăm a hay, ma nưih ăt ma mông lâng zr’lụ c’noong k’tiêc n’nâu tơợ apêê t’ngay tr’nơơp bhrợ cách mạng, xay moon ghit râu tr’xăl coh vel đong âng đay:“Tây Giang âi tr’xăl bâc râu liêm pr’hau, c’bhuh c’lâng c’tôch âi bhrợ tươc zâp apêê chr’val, vel ( năc Aur căh âi), điện, c’lâng, trường trạm âi zâp. Lâh mơ n’năc, apêê chr’năp văn hóa, lịch sử , crâng đac bơơn bhrợ pa dưr du lịch. Hơnh bhlâng năc apêê pr’đhang pa dưr tr’mông âi r’dợ dưr vaih coh đhăm k’tiêc đha rưt n’nâu. Pr’ăt tr’mông âng đha nuôr âi liêm lâh a hay, doó dzợ vêy pr’loọng ha ul, đha rưt năc xiêr bâc t’piing lâng a hay. Pa bhlâng, Tây Giang vêy c’bhuh cán bộ, đảng viên liêm crêê, lưch loom tu đha nuôr.”
Đha nuôr lâng pr’zơc da dêr! Xang t’ngay vel đong bơơn pa chô, bơơn râu k’rang âng Đảng lâng Nhà nước, bâc dự án, bh’rợ xa nay cr’noọ cr’niêng k’tiêc k’ruung bơơn k’rong bhrợ coh zr’lụ da ding ca coong. Acoon c’lâng Hồ Chí Minh bhrợ t’bhưah z’lâh apêê chr’hoong Đông Giang, Nam GIang, Tây GIang… đơơng âng râu tr’xăl t’mêê căh bhr’nêy. Truih da ding Trường Sơn z’nghit ma bhuy, bâc pr’loọng đong z’lâh k’đhap, pa dưr tr’mông tr’meh, dưr ca van. Pr’loọng đong a noo Bhling Đham ăt coh vel Pa Jum, chr’val Zuôih, chr’hoong da ding ca coong Nam Giang l’lăm a hay bâc năc ma mông ooy ha rêê đhuôch lâng râu zooi đoọng âng Nhà nước năc nâu câi âi năl pa dưr tr’mông tr’meh bhươn a tông. Tơợ bơr tr’pang têy k’gooh, nâu câi a noo Đham âi vêy coh têy 10 p’nong c’rooc, lâh 20 p’nong a oc, k’noọ 200 p’nong a tưch, 5 hécta keo lâng tơơm z’nươu, pa chô zâp c’moo tơợ 120-180 ức đồng. A noo Bhling Đham truih âi bơơn choh bhrợ đong nhâm mâng, vêy ti vi, xe máy, acoon a nại học hành liêm ta nih:“L’lăm a hay pr’ăt tr’mông zr’năh kđhap bhlâng. Bhrợ ha rêê ga lêêh ga lêêng căh zâp cha. Ha ul prang c’moo. Xooc đâu, pr’ăt tr’mông công z’zăng ta clơ, vêy râu cha, râu xâp, vêy đong xang nhâm mâng. Bâc t’ngau x’ría tuần acu p’loon zooi k’điêl pa dưr tr’mông pr’loọng đong.”
Đợ pr’loọng z’lâh đha rưt, bhrợ cha ca van đhị đhăm vel đong đay cơnh pr’loọng đong a noo Bhling Đham coh zr’lụ da ding ca coong nâu câi doó dzợ u hăt. T’cooh Hồ Thanh Tân, Phó Trưởng Ban Acoon coh da ding ca coong tỉnh Quảng Nam đoọngt năl, ha dang cơnh c’moo 2015, pr’loọng đha rưt âng da ding ca coong tỉnh Quảng Nam bơơn 40%, tỉnh Quảng Nam t’bhlâng zâp c’moo xiêr 5% pr’loọng đha rưt. Đoọng xơợng bhrợ cr’noọ cr’niêng n’nâu, k’noọ tươc, tỉnh vêy xay bhrợ apêê c’bhuh dự án ha dưr dal râu liêm choom âng bh’rợ choh crâng; bhrợ pa dưr bh’rợ xay bhrợ muy chr’val muy bh’nơơn, apêê dự án pa dưr bh’rợ tr’nêng, p’têêt pa zum chr’năp bhrợ têng lâng đươi dua bh’nơơn. Đh’rưah lâng n’năc, vel đong vêy k’rong xơợng bhrợ mr’cơnh apêê bh’rợ xa nay, dự án pa xiêr đha rưt nhâm mâng, vêy c’lâng xa nay zooi pa xiêr đha rưt nhâm mâng ting pr’loọng, ting c’bhuh:“Tỉnh Quảng Nam xay moon cr’noọ xa nay t’bil ha ul pa xiêr đha rưt nhâm mâng, t\bhlâng pa xiêr n’dup 5%/c’moo; apêê bh’rợ xa nay n’đăh pa dưr vel bhươl t’mêê choom k’đhơợng nhâm chat lâng nhâm mâng. N’đăh pa liêm môi trường, học hành, dịch vụ k’rong bhrợ đoọng ha da ding ca coong, coh đêêc vêy k’rong bhrợ pa dưr ha pêê vel bh’rợ, pa dưr du lịch vel đong, văn hóa ty đanh âng zr’lụ acoon coh… đhị đêêc pa dưr du lịch, vel bh’rợ.”
Cr’chăl “ ha ul cha, ta bha bhooh” âi z’lâh, c’rơ tr’mông t’mêê ting t’ngay ting dưr n’leh ghit coh apêê vel Cơ Tu. Đha nuôr coh đâu muy loom ting Đảng, zư nhâm loom ting Ava Hồ, đh’rưah bhrợ pa dưr pr’ăt tr’mông ca bhố ngăn, bhui har coh da ding ca coong Trường Sơn./.

Cuộc sống mới của đồng bào Cơ Tu trên dãy Trường Sơn
PV/VOV-Miền Trung
45 năm sau ngày giải phóng, những bản làng Cơ Tu trên dãy Trường Sơn có nhiều đổi thay kỳ diệu. Vùng núi rừng thiêng nước độc năm xưa luôn bị ám ảnh bởi nghèo đói, thất học nay đang khoác trên mình chiếc áo mới ấm no, yên bình.
Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn mới dựng lên trên nền đất cũ, bà Bnước Thị Đói ở thôn Ta Lang, xã Bha Lêê, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam không giấu được nụ cười mãn nguyện. Bà bảo, ở cái tuổi ngoài 70 như vợ chồng bà, có nhà cửa kiên cố, con cháu nội ngoại đông vui, cuộc sống ổn định, không còn gì vui hơn. Bà Đói luôn nhớ về một thời chiến tranh khói lửa. Bà kể, ngày ấy bà con vùng cao thường làm nhà dưới tán rừng, cách xa nhau để tránh bị địch phát hiện. Cuộc sống đói khổ, cận kề cái chết nhưng đồng bào Cơ Tu vẫn một lòng theo Đảng, theo Bác, bám làng, bám bản. Người già thì vót chông, cài bẫy; còn những người trẻ như bà thì tham gia dân công hỏa tuyến, làm giao liên, mở đường, gùi lương, tải đạn chi viện cho chiến trường miền Nam… Rồi giữa những ngày chiến tranh ác liệt đó, bà gặp ông, cả 2 nên duyên chồng vợ. Đất nước hòa bình, ông bà trở về trên người mang thương tật nhưng họ vẫn bên nhau lên nương rẫy, làm ra hạt lúa củ khoai, nuôi 6 người con khôn lớn. Những ngày mới giải phóng khó khăn, vất vả lắm nhưng bà Bhnước Thị Đói luôn tin tưởng quê hương sẽ đổi thay, đời sống của bà con Cơ Tu không còn đói khổ nữa: “Trước đây chẳng có cái gì, chỉ ăn sắn, ăn rau. Mưa gió cũng phải đi kiếm rau, sắn, lá môn, nuôi heo, nuôi gà… đem đi bán, lấy tiền mua cá ăn. Bữa ni tương đối hơn, có du lịch họ cũng đón khách nhập làng, có điện sáng sủa. Nhà nào cũng có cơm ăn, có ti vi, xe cộ, không còn hộ đói, nghèo.”
Niềm tin và mong đợi của bà Bnước Đói đã thành hiện thực. Làng Ta Lang, nằm bên con suối Chơr Lang hiền hòa giờ đã trở thành điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng, được du khách khắp nơi tìm đến. Ông A Rất Típ, nguyên Bí thư Huyện ủy Tây Giang, người gắn bó với vùng cao biên giới này từ những ngày đầu Cách mạng, cảm nhận rất rõ sự đổi thay trên quê hương mình: “Tây Giang đã thay da đổi thịt, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư đồng bộ, hệ thống đường giao thông đã mở tới các xã, thôn ( ngoài A Ur), điện, đường, trường trạm đã đầy đủ. Hơn thế nữa, các giá trị tuyền thống văn hóa, lịch sử, sinh thái được đưa và khai thác để phục vụ du lịch. Mừng nhất là các mô hình phát triển kinh tế đã lần lượt hình thành trên mảnh đất nghèo khó này. Cuộc sống bà con đã hơn trước đây nhiều, không còn hộ đói, hộ nghèo đã giảm nhiều so với trước đây. Đặc biệt, Tây Giang có đội ngũ cán bộ, đảng viên tốt, hết lòng vì dân.”
Sau ngày quê hương giải phóng, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều dự án, chương trình mục tiêu quốc gia được đầu tư ở vùng cao, miền núi. Con đường Hồ Chí Minh huyền thoại thênh thang xuyên qua các huyện Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang….. mang theo sự đổi thay diệu kỳ. Giao thông mở rộng đến đâu, cuộc sống mới nhộn nhịp đến đó. Dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ, nhiều gia đình vượt khó, phát triển kinh tế, vươn lên giàu có. Hộ gia đình anh Bhling Đham ở thôn Pa Jum, xã Zuốih, huyện miền núi Nam Giang trước đây chủ yếu sống nhờ nương rẫy và sự hỗ trợ của Nhà nước thì nay đã biết phát triển kinh tế trang trại. Từ 2 bàn tay trắng, giờ anh Đham đã có trong tay 10 con bò, hơn 20 con heo thịt, gần 200 con gà, 5 hecta keo và cây dược liệu, thu nhập bình quân mỗi năm từ 120 đến 180 triệu đồng. Anh Bhling Đham khoe đã xây được ngôi nhà kiên cố, có ti vi, xe máy, con cái học hành đến nơi đến chốn: “Trước đây cuộc sống khó khăn lắm. Làm rẫy vất vả mà không đủ ăn. Đói quanh năm. Hiện tại, cuộc sống cũng đỡ vất vả hơn, có cái ăn, cái mặc, có nhà cửa kiên cố. Những ngày cuối tuần tôi tranh thủ giúp vợ phát triển kinh tế gia đình có đồng ra đồng vào.”
Những hộ vượt khó, làm giàu trên chính quê hương mình như gia đình anh Bhling Đham ở vùng núi cao giờ không còn là chuyện lạ. Ông Hồ Thanh Tân, Phó Trưởng Ban Dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam cho biết, nếu như năm 2015, hộ nghèo của miền núi tỉnh Quảng Nam chiếm gần 40% thì nay giảm xuống dưới 16%. Theo ông Tân, từ nay đến năm 2025, tỉnh Quảng Nam phấn đấu mỗi năm giảm 5% hộ nghèo. Để thực hiện mục tiêu này, sắp tới, tỉnh sẽ triển khai các nhóm dự án nâng cao hiệu quả kinh tế rừng; đẩy mạnh việc triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm, các dự án phát triển sản xuất, liên kết chuỗi giá trị sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, địa phương sẽ tập trun thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án giảm nghèo bền vững, có giải pháp hỗ trợ giảm nghèo bền vững theo từng hộ, từng nhóm đối tượng: “Tỉnh Quảng Nam đặt mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững, phấn đấu giảm nghèo dưới 5%/ năm; các chương trình về xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo thực chất và bền vững. về vệ sinh môi trường, học hành, dịch vụ đầu tư cho miền núi, trong đó đầu tư tập trung cho các lĩnh vực làng nghề, phát triển du lịch cộng đồng, văn hóa truyền thống của vùng dân tộc thiểu số..thông qua đó phát triển du lịch, làng nghề.”
Cái thời “đói cơm, lạt muối” đã qua đi, sức sống mới từng ngày hiện rõ trong các bản làng Cơ Tu. Đồng bào nơi đây một lòng với Đảng, giữ trọn niềm tin với Bác Hồ, cùng nhau xây dựng một cuộc sống ấm no, yên vui trên núi rừng Trường Sơn./.
Viết bình luận