Tợợ râu zr’năh xr’dô zêl pruh a râp a bhuy đh’rưah bhrợ pa dưr râu yêm têêm
Thứ sáu, 00:00, 24/07/2020
C’xêê 7, c’bhuh ma nưih chô chơơc tươc đhăm k’tiêc Quảng Trị ma bhuy chr’năp zâp t’ngay ting bâc a năm. Apêê đoo tươc đâu đoọng lum lêy ping xal, băt hương hay tươc ma nưih đong, chăp hay apêê anh hùng liệt sỹ âi lâh chêêt bil đoọng ha yêm têêm, độc lập t’ngay đâu.

 

 

Quảng Trị năc đhị ăt k’độ bâc râu ca ay loom tr’pac k’tiêc k’ruung. Đhăm k’tiêc n’nâu lươt moot ooy lịch sử dhd’rưah lâng bơr toọm k’ruung bơơn chơơih pay bhrợ c’noong ta coong xooc đêêc. Ha dang cơnh c’xêê 8 c’moo 1954, acoon k’ruung Bến Hải coh vĩ tuyến 17 bơơn chơơih pay bhrợ c’noong tr’pác Việt Nam bhrợ 2 miền Nam – Bắc năc c’moo 1973, toọm k’ruung Thạch Hãn năc bơơn lêy bh’rợ pr’đơp p’loh ma nưih lính chô n’đăh tù. Vel đong Quảng Trị năc tr’zêêng pa chô 2 chu ( moot c’moo 1973 lâng 1975). Quảng Trị công năc đhị ăt zâng bâc râu bil bal ngân bhlâng coh g’luh zêl pruh a râp a bhuy.

Căh vêy vel đong n’đoo năc bha nụ ping xal bâc cơnh coh Quảng Trị cơnh lâng 72 bha nụ ping xal liệt sĩ, coh đêêc vêy 2 bha nụ ping xal liệt sỹ k’tiêc k’ruung. Lâng công tơợ đhăm k’tiêc n’nâu ăt zâng bâc râu ca ay loom hưl đhăl tu cơnh đêêc cr’noọ cr’niêng yêm têêm năc bh’nhăn ga măc. Năc tơợ rau ca ay loom luônh n’năc, Quảng Trị gung dưr đoọng xang 45 c’moo yêm têêm bơơn pa chô cớ, đhăm k’tiêc n’nâu dưr vaih đhị zư đơc đợ g’luh tr’lum “ Tu Yêm têêm”.

Bhar xră 1: Cr’noọ cr’niêng yêm têêm đhị râu zr’năh xr’dô zêl pruh a râp

“Ama ơi! G’luh tr’nơơp cu bơơn lum a ma. Ama đoọng acu t’đang moon ama muy chu. Ama xăl đoọng ha cu năc năc đhêêng lâng apêê n’jeh hương n’nâu”. Đhr’niêng ch’êêc âng ma nưih ca coon n’đil bêl t’đang “Ama ơi” dưr đơơr ch’va đhị k’bhan ping xal liệt sĩ xooc ăt đhêy coh bha đưn Bến Tắt, chr’val Vĩnh Trường, chr’hoong Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Coh m’pâng đhâng c’xêê 7, a moó Lê Thị Thơm k’op nhâm ta la bia đhêl coh ping âng ca conh đay: Liệt sĩ Lê Anh Hiến, vel đong Thái Nguyên, hy sinh c’moo 1972 đhị c’lâng 9 Nam Lào. T’ngay ca conh hy sinh, a moó năc đhêêng 6 c’xêê ha dợ. L’lăm bêl căh ma mông, ca conh a moó công căh năl ca coon đay n’niên năc n’jưih, n’đil.  Bêl bịng 30 c’moo lâng công mơ đêêc c’moo  c’pị loom, ha der loom đhị râu t’đang moon “ Ama ơi!”:“G’luh tr’nơơp moot lâng a ma, tơt đhị tàu năc muy tươc Quảng Bình a nam năc acu âi pa bhlâng ha der loom. Acu rêên bâc chu, năc muy kiêng t’đang muy pr’leh “Ama ơi” năc âi xơợng căh choom dưr đơơr đh’riêng.”

Âi 45 c’moo zêl pruh a râp a bhuy âi z’lâh năc đợ tr’dzôh đac măt công dzợ hooi đhị crâng ca coong Trường Sơn. Năc đoo năc đợ tr’dzôh đac măt ca coon rêên hay ca conh, k’điêl rêên hay k’dic, ca căn chơơc ca coon. Zêl pruh a râp a bhuy công bhrợ  tr’pac ma nưih Nam, ma nưih Bắc prang bâc k’zêt c’moo đanh.

Vĩ tuyến 17 vêy acoon toọm Bến Hải âi ting bơơn lêy căh năl mơ râu ca ay loom âng râu tr’pac tr’clăh. K’noọ 50 c’moo l’lăm, crêê moot bêl c’moo zêl pruh a râp a bhuy zr’năh xr’dô bhlâng coh đhăm k’tiêc Quảng Trị - c’moo 1972, t’cooh Hoàng Nghi n’đăh toor Bắc lâng p’căn Hoàng Thị Hoa ăt n’đăh toor Nam âi tr’lum lâng tr’kiêng. N’đhang a nhi đoo căh bơơn tr’tươc tu râu tr’pac tr’clăh lâng căh bơơn tr’lum prang bâc c’moo xang lâh n’năc:“C’moo 1972, Quảng Trị crêê ta zêl hưl đhăl. A zi bơơn tr’lum căh bịng muy c’xêê, xang n’năc pr’loọng đong a đoo chô n’đăh tôh năc căh bơơn tr’lum đhị cr’chăl đanh.”

“Ca er bhlâng a đoo, căh năl cơnh bhrợ. Năc muy moot ooy đeêc ga vơh bộ đội pa gơi thư. Bêl la lâh hay a đoo, lươt tươc toor k’ruung ch’lang lêy a đoo toor n’đăh tôh. Rơơm kiêng râu yêm têêm, mr’cơnh xay moon đoọng tr’lum cớ.”

Đanh đươnh prang 21 c’moo, mị n’đăh toor Hiền Lương dưr vaih đhị tr’đương tr’kía âng ma nưih Bắc, ma nưih Nam. Zâp ha dum, căh hăt apêê ma nưih k’điêl p’niên luh dzoọng đhị toor k’ruung rêên. Công vêy ngai âi lâh c’lâm chêêt đhị  c’bhuh ch’răh bêl chang z’lâh k’ruung lum lêy ch’roonh. T’ngay n’năc, căh ting pr’loọng đong  lươt tơơi đhâc, t’cooh Lê Công Hường ăt bhrợ bh’rợ băn p’lơơp bộ đội lâng zư lêy ta la cờ c’noong k’tiêc. T’cooh Hường hay cớ, prang vel Hiền Lương t’ngay n’năc căh vêy muy đhr’nong đong a ôt:“Bêl âi u tuh pa hư  năc u xay moon năc lêêng c’chêêt pa zêng, a dich a bhươp, a conh a căn a coon a nại zêng chô ooy Nghệ An lưch. Năc coh đâu đhêêng dzợ 1 trung đội dân quân du kích, dân quân pa zum lâng công an t’mêê dông ta la cờ, zư lêy cờ, n’jưah đương goon, cha groong a pêê đoo tươc đâu.”

Râu zr’năh xr’dô âng zêl pruh a râp coh Quảng Trị cơnh t’cooh  Nguyễn Kham, ting pa bhrợ đhị Khu ủy Vĩnh Linh moon, năc đoo râu  bhrợ pa hư 200%:“Râu bhrợ pa hư năc 200%, bil pât căh dzợ vêy râu. Nâu đoo tỵ năc đhị muy đhăm k’tiêc liêm âng Quảng Trị, zr’lụ k’tiêc ca van bhlâng âng Quảng Trị. Đơơng pr’chăp chiến thắng, đơơng chr’năp t’bhlâng bhrợ pa dưr vel đong đhị râu yêm têêm âi bhrợ pa dưr ha zâp ngai đh’rưah bhrợ t’bhit băng bh’rêy âng chiến tranh.”

Zêl pruh a râp a bhuy pa bhlâng zr’năh  bhrợ ha coon ma nưih Quảng Trị dh’rưah lâng pa zêng đha nuôr Việt Nam grơơ nhool, lâng rơơm kiêng râu têêm ngăn căh cơnh. Tỉnh Quảng Trị cơnh muy đhị  pa căh pa k’tứi âng k’tiêc k’ruung Việt Nam crêê a râp a bhuy bhrợ pa hư ngân. Phó Chủ tịch k’tiêc k’ruung l’lăm a hay Nguyễn Thị Bình, Bh’cộ c’bhuh lươt pa prá âng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam l’lăm a hay đhị hội nghị Pari c’moo 1973 moon, Quảng Trị năc đhị pa căh ghit bhlâng ooy c’leh yêm têêm âng đha nuôr Việt Nam.“Quảng Trị crêê năc c’leh âng râu têêm ngăn. Quảng Trị năc đhị pa căh k’tứi âng g’luh zêl pruh a râp a bhuy âng  Việt Nam. Lâng đhị đâu âi bơơn lêy đợ g’luh zêl pruh a râp a bhuy pa bhlâng zr’năh k’đhap lâng râu chêêt bil ga măc ga mai âng quân đha nuôr hêê. Acu pa bhlâng rơơm kiêng ng’cơnh choom Quảng Trị năc đhị tr’lum tr’lêy đoọng đoàn kết, bhrợ pa dưr têêm ngăn.”

Tỉnh Quảng Trị  năc đhị vêy c’noong k’tiêc bhrợ tr’pac tr’clăh Việt Nam dưr vaih 2 miền Nam – Bắc.

Lâh 95% vel bhươl coh Quảng Trị crêê a râp a bhuy bhrợ pa hư, bil bal. Đhêêng đhị zr’lụ Vĩnh Linh, trung bình zâp cha năc đha nuôr năc đương ăt zâng 7 tấn bom lâng 800 p’lêê đại bác.

Thành cổ QuảngTrị bhưah đhêêng lâh 2000 mét năc Mỹ âi n’toh p’tộ 328 tấn bom cha răh cơnh lâng c’rơ bhrợ pa hư ma mơ lâng 7 p’lêê bom nguyên tử glâm ooy Hiroshima lâng Nagasaki.

Coh 81 t’ngay ha dum zêl pruh zư lêy Thành Cổ, lâh 3 bhan chiến sĩ, đha nuôr hêê lâh hy sinh. Căh vêy đhị ooy bha nụ ping xal liệt sĩ dưr bâc cơnh coh Quảng Trị cơnh lâng 72 bha nụ ping xal, coh đêêc 2 bha nụ ping xal k’tiêc k’ruung cơnh lâng k’noọ 54 r’bhâu bêệ ping./.

Từ khói lửa chiến tranh cùng vun đắp hòa bình.

   Thu Hòa – Thanh Hiếu – Nguyễn Hằng/VOV Miền Trung + VOV1

       Tháng 7, dòng người tìm về mảnh đất Quảng Trị linh thiêng mỗi ngày càng đông hơn. Họ tới đây để viếng mộ, thắp hương tưởng nhớ người thân, tri ân các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống cho hòa bình, độc lập hôm nay.

Quảng Trị là nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt đất nước. Vùng đất này đi vào lịch sử cùng hai dòng sông được chọn làm giới tuyến tạm thời. Nếu như tháng 8 năm 1954, con sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 được chọn làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành 2 miền Nam – Bắc thì năm 1973, dòng Thạch Hãn chứng kiến việc trao trả tù binh. Quê hương Quảng Trị phải giải phóng 2 lần (vào năm 1973 và năm 1975). Quảng Trị cũng là nơi chịu nhiều tổn thất nặng nề trong chiến tranh.

        Không có địa phương nào mà nghĩa trang nhiều như ở Quảng Trị với 72 nghĩa trang liệt sỹ, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sỹ quốc gia. Và cũng từ mảnh đất chịu nhiều nỗi đau quá lớn nên khát vọng hòa bình càng lớn. Chính từ sâu thẳm nỗi đau đó, Quảng Trị mạnh mẽ vươn dậy để rồi sau 45 năm hòa bình lập lại, mảnh đất này trở thành nơi ghi dấu những cuộc gặp gỡ “Vì Hòa Bình”.

Bài 1: Khát vọng hòa bình trong khói lửa chiến tranh

 “Ba ơi! Lần đầu tiên con được gặp ba. Ba cho con gọi ba một câu. Ba thay thế cho con chỉ bằng những nén hương này.”

Tiếng nấc của người con gái khi gọi “Ba ơi!” thổn thức, vang vọng trước hàng vạn anh linh liệt sĩ đang yên nghỉ trên đồi Bến Tắt, xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Giữa buổi trưa tháng 7, chị Lê Thị Thơm ôm chặt tấm bia đá trên mộ phần của ba mình: Liệt sĩ Lê Anh Hiến, quê Thái Nguyên, hy sinh năm 1972 tại đường 9 Nam Lào. Ngày ba hy sinh, chị mới 6 tháng tuổi. Trước lúc ngã xuống, ba chị cũng không biết con sinh ra là trai hay gái. Khi tròn 30 tuổi và cũng ngần ấy năm âm dương cách biệt, lần đầu tiên chị Thơm mới được gặp ba tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn này. Bao nhiêu nhớ thương trong suốt 30 năm ấy được dồn nén, nghèn nghẹn trong tiếng gọi “Ba ơi!”: “Lần đầu vào với ba, ngồi trên tàu chỉ đến Quảng Bình thôi là tôi đã vô cùng xúc động rồi. Tôi khóc rất nhiều, chỉ muốn cất lên tiếng gọi "Ba ơi" mà nghẹn ngào không nói lên lời.”

Đã 45 năm chiến tranh đi qua mà những giọt nước mắt vẫn còn rơi nơi đại ngàn Trường Sơn. Đó là những giọt nước mắt con khóc cha, vợ khóc chồng, mẹ già tìm con. Chiến tranh cũng gây chia cách người Nam, kẻ Bắc suốt nhiều chục năm trời:

Vĩ tuyến 17 có con sông Bến Hải đã từng chứng kiến biết bao nỗi đau của sự chia cách. Gần 50 năm trước, đúng vào năm chiến tranh ác liệt nhất ở mảnh đất Quảng Trị - năm 1972, ông Hoàng Nghi ở bên bờ Bắc và bà Hoàng Thị Hoa ở bờ Nam đã gặp gỡ và đem lòng yêu nhau. Mối duyên ấy tưởng như không thành bởi sự chia cắt và mất liên lạc suốt nhiều năm sau đó: “Năm 1972, Quảng Trị bị đánh phá ác liệt. Chúng tôi gặp được nhau chưa đầy một tháng, sau đó gia đình bà ấy về bên kia thì mất liên lạc một thời gian dài.”

“Thương ông ấy lắm mà không biết làm sao hết. Chỉ có vào trong nớ nhờ bộ đội gửi thư qua. Lúc nhớ ông quá thì qua bờ sông nhìn qua bên kia trông ông. Cầu mong hòa bình, thống nhất để gặp lại nhau.” 

Đằng đẵng 21 năm trời, đôi bờ Hiền Lương trở thành nơi trông ngóng của người Bắc, kẻ Nam. Đêm đêm, không ít những người vợ trẻ ra bờ sông khóc thầm lặng lẽ. Cũng có người đã ngã xuống dưới làn đạn khi vượt sông sang thăm người mình yêu. Ngày đó, không theo gia đình đi sơ tán, ông Lê Công Hường ở lại làm nhiệm vụ nuôi giấu bộ đội và bảo vệ lá cờ giới tuyến. Ông Hường nhớ lại, cả thôn Hiền Lương ngày ấy không có một nóc nhà: “Khi hắn đã đánh phá rồi thì hắn tuyên bố là hủy diệt, ông bà cha mẹ con cái ra Nghệ An hết. Chỉ còn ở đây là 1 trung đội dân quân du kích, dân quân phối hợp với công an vừa treo cờ, bảo vệ cờ, vừa gác cầu cầu, ngăn hắn tràn qua đây.”

Sự khốc liệt của chiến tranh ở Quảng Trị như ông Nguyễn Kham, từng công tác tại Khu ủy Vĩnh Linh nói, đó là sự hủy diệt 200%: “Sự hủy diệt là 200%, tan nát không còn gì hết. Đây vốn là một vùng trù phú của Quảng Trị, vùng giàu có của Quảng Trị. Mang tư tưởng chiến thắng, mang ý chí quyết tâm xây dựng quê hương trong hòa bình đã thôi thúc cho mọi người cùng hàn gắn vết thương chiến tranh.”

Chiến tranh quá tàn khốc làm cho con người Quảng Trị cùng cả dân tộc Việt Nam cứng rắn, kiên trung, dũng cảm hy sinh và cháy bỏng nỗi khát khao hòa bình. Tỉnh Quảng Trị như một hình ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại hội nghị Pari năm 1973 cho rằng, Quảng Trị là nơi thể hiện rõ nhất về biểu tượng hòa bình của người dân Việt Nam: “Quảng Trị xứng đáng là biểu tượng hòa bình. Quảng Trị là hình ảnh thu nhỏ của cuộc chiến tranh Việt Nam. Và nơi này đã chứng kiến những cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt và chứng kiến hy sinh to lớn của quân dân ta. Tôi rất mong làm sao Quảng Trị là nơi gặp gỡ để đoàn kết, xây dựng hòa bình.”

         Tỉnh Quảng Trị từng là nơi có giới tuyến tạm thời chi cắt Việt Nam thành 2 miền Bắc – Nam.

Hơn 95% làng mạc ở Quảng Trị bị chiến tranh tàn phá, hủy diệt. Riêng khu vực Vĩnh Linh, trung bình mỗi người dân phải hứng chịu 7 tấn bom và 800 quả đại bác.

Thành cổ Quảng Trị chu vi chỉ hơn 2.000 mét mà Mỹ đã trút xuống 328 tấn bom đạn với sức công phá bằng 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki. Trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ, hơn 3 vạn chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh.

Không có nơi đâu nghĩa trang liệt sĩ nhiều như ở Quảng Trị với 72 nghĩa trang, trong đó 2 nghĩa trang quốc gia với gần 54 ngàn phần mộ liệt sĩ../.

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC