Cơnh azi ơy xay moon ooy t’ruíh t’ngay nua, đhr’năng p’răng xơớt cóh Tây Nguyên-zr’lụ bha’lâng chóh bhrợ nông nghiệp âng prang k’tiếc k’ruung nắc bhrợ bil ta’bhứch bấc, cắh choom dáp lêy lâng zên. Ooy t’ruíh bêl đâu, azi xay moon đắh râu tu âng bhiệc nâu. Nâu đoo nắc bhiệc k’rong bhrợ padưr zâp xa’nay bh’rợ thuỷ điện cắh năl mơ bhrợ cắh liêm crêê môi trường. zâp xa’nay bh’rợ bha’nậ chr’hooi đác nắc cắh liêm glặp lâng râu ơy váih k’rơ liêm cóh zr’lụ, bh’rợ k’đhơợng zư bhrợ têng cắh liêm choom. Bhiệc bhrợ pa’hư crâng, bơơn bhrợ đác ngầm cắh liêm crêê, bhrợ đác đoong ting t’ngay ting xiêr rêệ bil.
Râu lướt moót k’đhơợng bhrợ âng acoon manứih nắc ơy bhrợ pr’đơợ trực tiếp tước đác đươi cóh Tây Nguyên ooy bấc c’moo nua, l’lăm nắc bhiệc bhrợ têng bấc đông máy thuỷ điện đhị zâp tâm k’ruung pậ. cơnh nắc dự án thuỷ điện An Lhê-Ka Nak cóh tỉnh Gia Lai nắc zêl cha’groong k’ruung Ba tơợ tu k’ruung, xang nặc đơơng chô đác ooy k’ruung Kôn, tỉnh Bình Định, k’ruung Ba dưr váih acoon cóh chêết bi, rêệ tiing. Zâp c’moo, lấh 300 tỷ mét khối đác k’ruung Ba chô hooi ooy Bình Định, bhrợ k’zệt r’bhâu hécta k’tiếc bhrợ cha cóh 6 chr’hoong, thị xã âng tỉnh Gia Lai ma goóh gooi. K’dâng 400 r’bhâu đhanuôr ắt mamung truíh k’ruung Ba nắc ặt zâng râu nha’nhự đác đoong đươi dua. Ooy nhiệm kỳ bhrợ chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, t’coóh Phạm Đình Thu taluôn lưm zr’nắh k’đhạp tu xa’nay bh’rợ thuỷ điện nâu:
Thuỷ điện An Khê-Ka Nak nắc đoo bhiệc đenh đươnh, cắh năl ha bêl vêy choom xang. G’lúh lướt prá xay, lưm ta’moóh đhanuôr zâp bêl cung xay moon lứch c’rơ bh’rợ nắc zr’nắh bhlâng. Nâu cơy bhrợ cắh liêm crêê tước zr’lụ đăn k’noọ 400.000 đhanuôr ắt, cắh vêy mưy cóh An Khê. Bhiệc pa’tơơi c’lâng đác lướt hooi nắc bhrợ cắh liêm crêê, zr’nắh bhlâng.
Tr’cơnh lâng bhiệc nâu, cóh k’ruung Sê-rê-poc, nắc đhị pazưm âng k’ruung Krông Nô lâng Krông Ana lướt hooi ooy 2 tỉnh Đắc Nông lâng Đắc Lắc cung ta bhậ bhrợ bấc đhị đoọng bhrợ thuỷ điện, bhrợ cắh liêm crêê tước bha’nậ chr’hooi đác. Tơợ bêl đông máy thuỷ điện Buôn Tuar Sah bhậ k’ruung Krông Nô, đác bhrợ têng âng 8 chr’val cóh tỉnh Đắc Lắc lâng Đắc Nông nắc cắh liêm zâp. Cóh piíc k’ruung, đông máy thuỷ điện Sê-rê-poc 4A bhậ đhị chr’hoong Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, nắc âng đơơng đác chô hooi ting c’lâng đắh lơơng, bhrợ k’zệt km k’ruung Sê-rê-poc ma rêệ tiing. Bhiệc bhrợ nâu nắc bhrợ răng goóh zêng k’tiếc bhrợ cha, bhrợ cắh liêm crêê tước đhị pr’ắt tr’mung cóh bhươn quốc gia Yook Đôn, lâng bhrợ đhị zr’lụ du lịch sinh thái Buôn Đôn dưr váih mưy đhị ta’lơi, cắh dzợ bấc ngai lướt moót lêy chi’ớh. đhị Kon Tum, thuỷ điện Thượng Kon Tum xoọc bơơn bhrợ padưr, âng đơơng đác tơợ k’ruung Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum chô ooy k’ruung Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, nắc bhrợ cắh liêm crêê bấc đhị, cung cơnh đhị zr’lụ thuỷ điện An Khê-Ka Nak, tỉnh Gia Lai ậh, zr’lụ du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắc Lắc cắh cậ cơnh cóh tran đác Pongour-Lâm Đồng, tran đác laliêm pr’hay cóh Tây Nguyên. A’ngắh Trương Thị Đáng, k’đhơợng zư zr’lụ du lịch sinh thái Tran đác Ponguor moon:
Bêl bhrợ padưr bha’nậ thuỷ điện Đại Ninh nắc zêng lêy đác đoong k’ruung Đa Ninh gr’hoót moon pa’hooi đác chô k’ruung Đa Nhim nâu mưy phút nắc ha mơ khối đác, hadợ lêy lalua nắc apêê cắh vêl bhrợ têng cơnh ta moon n’nắc.
Nắc lêy Tây Nguyên xoọc lưm zr’nắh k’đhạp, tự bhrợ zr’nắh ha đay, cắh năl ha bêl nắc vêy đhêy liêm. Đh’rứah lâng bhiệc cắh lêy cha’mêết liêm gít bêl k’noọ bhrợ têng zâp đông máy thuỷ điện, bhiệc bhrợ pa’hư crâng cóh Tây Nguyên cung nắc râu tu bhrợ đác đoọng ma rêệ tiing. Ting cơnh tổng cục lâm nghiệp moon,7 c’moo hanua, Tây Nguyên bil k’noọ 360 r’bhâu hécta crâng. 2, 3 số liệu xay moon đoọng lêy, 30 c’moo hanua, m’pâng đhọ pazêng k’tiếc crâng cóh Tây Nguyên ta bhrợ pa’hư, lâng k’tiếc crâng bhrợ pa’hư lấh 1 ực 500 r’bhâu hécta, bhrợ bil gâm ngút, bil đhr’năng zư đác đoong. T’coóh Trương Vân-GĐ công ty TNHH MTV bhrợ têng xa’nay bh’rợ bha’nậ chr’hooi đác Gia Lai đoọng năl:
Pa’hư crâng nắc mưy râu bhrợ cắh liêm crêê k’ro bhlâng, nắc bhrợ t’bil zêng n’loong n’cuông. Hadợ bhiệc tr’xăl crâng cắh dzợ liêm nắc acu k’noọ cung bhrợ cắh liêm crêê. Tu bêl ahay đhanuôr chóh ha’roo cóh ha’rêê đhị tu k’ruung, xoọc đâu nắc xăl chóh cà phê, a’moót. Cơnh đêếc, nắc mưy g’lúh, n’jứah tưới đoọng ha’roo hân đhơ cơnh đêếc, apêê đươi dua bơm pay đác đoọng tưới cà phê, a’moót nắc đác cắh zâp.
Xoọc bêl thuỷ điện n’tóh đác cóh lơơng, crâng dading cung bil, cắh dzợ mặ đhr’năng zư đác, nắc bhiệc zêl cha’groong goóh gooi cóh Tây Nguyên zêng chô g’nưm ooy zâp bha’nậ chr’hooi đác. Tây Nguyên xoọc đâu vêy 2.260 bha’n chr’hooi đác, lâng 1.150 cr’loọng a’bóc, k’noọ 950 bha’nậ dưr, k’ha riêng trạm bơm lâng k’noọ 5.000km c’lâng chr’hooi đác. Hân đhơ cơnh đêếc, k’ha riêng bha’nậ chr’hooi đác ma hư zớch, dzợ ha mơ nắc k’đhơợng zư, bhrợ têng cắh liêm k’rơ. Hân noo pa’hooi đác túh cắh liêm crêê, bêl p’răng xơớt nắc đươi dua ta’úah. T’coóh Mai Trọng Dũng, phó GĐ sở nông nghiệp lâng padưr pa’xớc vel bhươl tỉnh Đắc Lắc xay moon gít:
Zâp xa’nay bh’rợ bêl l’lăm ahay pazao đoọng ha vel đông k’đhơợng zư nắc pazao ooy chr’hoong, chr’hoong pazao cóh chr’val, chr’val nắc pazao ooy mưy cán bộ giao thông-bha’nậ chr’hooi đác, lâng xa’nay bh’rợ nâu nắc pazao đoọng ooy vel bhươl, nắc trưởng vel, vel bhươl k’đhơợng zư, lêy bấc xa’nay bh’rợ ma hư zớch, lấh mơ nắc 2, 3 xa’nay bh’rợ đoọng đhanuôr pay bhrợ. Zâp công ty cà phê nắc bhiệc k’rong bhrợ paliêm cắh dzợ tộ bhrợ, cung bhrợ cắh liêm crêê tước bhiệc tưới bhrợ.
Bhiệc pay bhrợ đác đoong cắh liêm crêê cung bhrợ ha Tây Nguyên ting t’ngay ting goóh gooi. Bh’nơơn lêy cha’mêết âng xa’nay bh’rợ liêm nhâm, âng tổ chức IDH âng Hà Lan đoọng lêy, k’dâng 5 c’moo chô ooy đâu, đác đoong cóh Tây Nguyên zâp c’moo xiêr rêệ tơợ 3-5m, pr’đươi đác cung xiêr tơợ 30-50%. Đhị lalua lêy cha’mêết bhrợ têng đác đươi âng đơn vị, t’coóh Trần Văn Thiện, GĐ công ty TNHH MTV âng đơơng đác Đắc Lắc đoọng năl:
Hân noo âng đay bhrợ têng nắc crêê bêl hân noo tưới cà phê, a’moót, nông nghiệp xoọc đâu tưới bấc bhlâng. 10 c’moo l’lăm ahay nắc vêy giếng đhộ tơợ 80-90m, xoọc đâu nắc 110-11m, xiêr 10-15m.
Mưy râu cắh liêm crêê dzợ nắc bấc bha’nậ chr’hooi đác cóh Tây Nguyên nắc mưy t’đui đoong ha t’nơơm ha’roo, bh’nơơn đơơng chô cắh bấc, hadợ lêy bấc tơơm chr’nóh bha’lâng vêy chr’nắp linh tế dal cơnh cà phê, a’moót lâng zâp râu t’nơơm cha p’lêê nắc cắh lấh p’gít lêy liêm. Prang zr’lụ xoọc đâu vêy k’dâng 600 r’bhâu hécta cà phê, 60 r’bhâu hécta a’moót, bấc lêy nắc đhanuôr tự chấc lêy đác tưới lâng bhiệc pếch giếng, khoan giếng, mơ k’dâng 30% k’tiếc cà phê âng zâp doanh nghiệp nhà nước bơơn k’rong bhrợ bha’nậ chr’hooi đác, xoọc đâu nắc lêy ma hư zớch hi’lêệng. bấc xa’nay bh’rợ bơơn nhà nước k’rong bhrợ cắh liêm ma mơ, cắh vêy c’lâng chr’hooi đác, nắc dzợ k’dâng 150 r’bhâu hécta tơơm chr’nóh ặt ooy đhr’năng âng đơơng đác hân đhơ cơnh đêếc cắh ơy bơơn tưới./.
GIÁ ĐẮT VÀ CHƯA BIẾT KHI NÀO THÔI TRẢ GIÁ
Như chúng tôi đã đề cập trong chương trình trước, tình trạng khô hạn ở Tây Nguyên-vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước đã gây ra nhiều thiệt hại, không thể tính hết bằng tiền. Trong chương trình hôm nay, chúng tôi phân tích về nguyên nhân của thực trạng này. Đó là việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện không tính hết tác động môi trường. Các công trình thủy lợi thì không phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của vùng, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập. Rồi tình trạng phá rừng, khai thác nước ngầm vô tội vạ, khiến trữ lượng nước ngày càng suy giảm.
Sự can thiệp thô bạo của con người đã tác động trực tiếp đến nguồn nước ở Tây Nguyên trong những năm qua, trước hết là việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên hầu hết các dòng sông lớn. Điển hình là dự án thủy điện An Khê – Ka Nak ở tỉnh Gia Lai đã chặn ngang dòng chảy sông Ba từ thượng nguồn, rồi chuyển nước về sông Kôn, tỉnh Bình Định; sông Ba trở thành con “sông chết”. Mỗi năm, hơn 300 tỷ mét khối nước sông Ba đã bị chuyển về Bình Định, khiến hàng chục nghìn hec-ta đất sản xuất ở 6 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai bị khô hạn. Khoảng 400.000 dân sinh sống dọc lưu vực sông Ba phải gánh chịu sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Suốt cả nhiệm kỳ làm Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Đình Thu luôn luôn bị áp lực bởi công trình thủy điện này.
“Thủy điện An Khê – Kanak là vấn đề lâu dài, căng thẳng lắm, không biết đến lúc nào kết thúc được. Cuộc tiếp cử tri nào cũng nói hết sức là gay gắt. Bây giờ nó ảnh hưởng đến lưu vực là gần 400.000 dân ở hạ lưu chứ không phải chỉ có An Khê không. Việc dịch chuyển nguồn nước là tác hại cực kỳ to lớn.”
Tương tự như vậy, hệ thống sông Sê-rê-pôk (hợp lưu của sông Krông Nô và Krông Ana) chảy qua 2 tỉnh Đắc Nông và Đắc Lắc cũng bị “chặt” ra nhiều khúc để xây dựng thủy điện, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước thủy lợi. Từ khi nhà máy thủy điện Buôn Tuar Srah chặn dòng Krông Nô, nguồn nước sản xuất của 8 xã, thuộc tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông bị ảnh hưởng. Dưới hạ nguồn, nhà máy thủy điện Sê-rê-pôk 4A chặn dòng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, khiến hàng chục km sông Sê-rê-pôk trơ đáy. Việc làm này đã gây hạn hán ở vùng hạ du, ảnh hưởng hệ sinh thái Vườn quốc gia Yook Đôn, đồng thời biến khu du lịch sinh thái Buôn Đôn vốn rất hấp dẫn, thành một địa chỉ heo hút. Tại Kon Tum, thủy điện Thượng Kon Tum đang được xây dựng, chuyển nước từ sông Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum sang sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, chắc chắn sẽ gây thảm cảnh tồi tệ không kém so với những gì đang diễn ra ở hạ lưu thuỷ điện An Khê-Kanak, tỉnh Gia Lai, khu du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắc Lắc hay như ở thác Pongour – Lâm Đồng, thác nước thơ mộng và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên. Bà Trương Thị Đáng quản lý Khu du lịch sinh thái Thác Pongour nói:
“Khi xây dựng đập thủy điện Đại Ninh thì hầu như nguồn nước dòng sông Đa Nhim về hạ nguồn của thác Pongour là không còn, không đủ nước để mà cung cấp cho cây trồng và nước về với thác, cạn kiệt luôn. Mặc dù thủy điện Đại Ninh cam kết xả về dòng sông Đa Nhim này một phút là bao nhiêu khối nước đó nhưng mà thực tế thì họ không thực hiện theo yêu cầu đó”.
Đúng là Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt và chưa biết khi nào thôi trả giá. Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng là tác nhân khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng. Theo Tổng cục lâm nghiệp, 7 năm qua, Tây Nguyên mất gần 360 nghìn ha rừng. Một số liệu thống kê khác cho thấy, 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá, với diện tích hơn 1 triệu 500 nghìn hec-ta, khiến độ che phủ suy giảm nhanh chóng, mất đi khả năng giữ nước. Ông Trương Vân – Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai cho rằng :
“Phá rừng là một tác động rất lớn, tức là nó đã xóa đi những thảm thực vật. Còn việc chuyển đổi rừng nghèo thì tôi nghĩ là nó cũng ảnh hưởng rất lớn. Vì trước đây người dân trồng lúa cạn ở đầu nguồn, bây giờ chuyển qua trồng cà phê, hồ tiêu. Như vậy là cùng một thời điểm, vừa tưới cho lúa nhưng thượng nguồn người ta sử dụng bơm lấy nước để tưới cho cà phê, hồ tiêu nên lượng nước rất thiếu”.
Trong khi thuỷ điện đổ nước đi nơi khác, rồi mất rừng-mất khả năng giữ nước, thì việc chống hạn ở Tây Nguyên dồn vào các công trình thuỷ lợi. Tây Nguyên hiện có 2.260 công trình thủy lợi, với 1.150 hồ chứa, gần 950 đập dâng, hàng trăm trạm bơm và gần 5.000 km kênh mương. Thế nhưng, hàng trăm công trình thủy lợi xuống cấp, bị bồi lắng, phần còn lại thì quản lý vận hành yếu kém. Mùa lũ xả sai quy trình gây ngập úng. Mùa hạn thì dùng lãng phí vào đầu vụ để cuối vụ cạn khô. Ông Mai Trọng Dũng – Phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắc Lắc nêu thực tế:
“Các công trình trước đây giao cho địa phương quản lý thì giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã lại giao cho một người cán bộ giao thông - thủy lợi; và công trình đó lại giao về cho thôn, buôn, thì ông trưởng thôn, buôn quản lý, để nhiều công trình xuống cấp, đặc biệt một số công trình để dân lấn chiếm. Các công ty cà phê thì việc đâu tư nâng cấp gần như không còn, nên cũng ảnh hưởng đến năng lực tưới của công trình”.
Tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ cũng khiến cho Tây Nguyên ngày càng khô khát. Kết quả nghiên cứu của Chương trình cảnh quan bền vững, thuộc tổ chức IDH của Hà Lan cho thấy, khoảng 5 năm trở lại đây, mực nước ngầm ở Tây Nguyên mỗi năm tụt xuống từ 3 đến 5m, trữ lượng nước đã giảm từ 30 đến 35%. Qua thực tế hoạt động khai thác nước ngầm của đơn vị, ông Trần Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cấp nước Đắc Lắc cho biết:
“Mùa mình khai thác là trùng với mùa tưới cà phê, hồ tiêu; nông nghiệp bây giờ tưới tiêu quá lớn. 10 năm trước thì giếng có độ sâu so với mặt đất là từ 80 đến 90 mét, nhưng hiện giờ xuống đến 110, 111 mét, xuống hẳn đi từ 10 đến 15 mét”.
Một bất cập khác là phần lớn các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên chỉ ưu tiên cây lúa, hiệu quả kinh tế thấp; trong khi nhiều cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và các loại cây ăn quả thì ít được chú trọng. Toàn vùng hiện có khoảng 600 nghìn hec-ta cà phê, 60 nghìn hec-ta hồ tiêu, phần lớn do nông dân tự tìm lấy nguồn nước tưới bằng việc đào giếng, khoan giếng; chỉ khoảng 30% diện tích cà phê của các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư công trình thủy lợi, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều công trình được Nhà nước đầu tư không đồng bộ; chưa có hệ thống kênh mương, nên còn khoảng 150 nghìn hec-ta cây trồng nằm trong khả năng cấp nước nhưng chưa được tưới.
Viết bình luận