Cóh đhr’nông đông đh’rơơng k’tứi âng đay, t’coóh Pơloong Dzin, cóh vel Abát, chr’val Chà Vàl, chr’hoong k’coong ch’ngai Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xoọc p’zay tớt taanh zong lâng đợ a’ngoọn c’rêê ơy ta chêếh k’tứi ma mơ. T’coóh Dzin moon, tơợ dzợ k’tứi a’đay ơy bơơn k’conh pa choom tanh dzặc cơnh đâu. Bêl 8 c’moo, t’coóh nắc ơy choom taanh bhrợ đợ pr’đươi ba buôn cơnh a’pợ hi điing. Tước bêl 18 c’moo, nắc choom taanh dzặc zâp râu pr’đươi chr’nắp k’đhạp lấh. T’coóh Dzin moon, ooy pr’ắt tr’mung zâp t’ngay cắh cậ bêl t’ngay bhiệc bhan, manứih Cơ Tu đươi dua bấc pr’đươi chr’nắp tơợ bh’rợ taanh dzặc ty chr’nắp âng acoon cóh. Nâu đoo nắc đợ a’pướih, hi điing, a’pợ, a’lợ, tr’ơớih... lâng lấh mơ nắc bấc râu zong bhrợ têng bấc cơnh laliêm. Zâp râu liêm chr’nắp nâu nắc taanh bhrợ lâng râu t’bhlâng tr’xin, liêm ghít, choôm ta bách âng pân jứih Cơ Tu: “bh’rợ taanh nâu cung k’đhạp. Hân đhơ nắc cung choom bhrợ. Cung cơnh pân đil t’taanh ậh. Zâp râu bhrợ têng zêng chr’nắp liêm âng manứih taanh bhrợ. Lấh mơ, bhiệc taanh âng pân jứih k’đhạp lấh.”
Pr’đươi đoọng manứih Cơ Tu taanh bhrợ râu pr’đươi liêm chr’nắp nâu nắc c’rêê, craam cr’đêê, ra zol... ta bơơn pay cóh crâng. Bhiệc taanh bhrợ âng manứih Cơ Tu k’đhạp bhlâng, ting lêy zâp râu pr’đươi taanh bhrợ nắc lêy taanh bhrợ lalay cơnh. Zong âng đơơng ha roo nắc taanh bhrợ lâng na lông mốt, zong guy óih nắc taanh bhrợ cơnh hình lục giác cắh cậ taanh lâng c’rêê cơnh hình thang cân, zong guy cha nêếh, ha roo taanh lâng c’rêê lâng nan long mốt, pa zưm lâng chr’loóh váih cơnh hình n’coo, đhị boọp nắc vil liêm, đắh dứp nắc hình vuông. T’lêếc lâng pr’đươi đợc pr’chăm lâng n’đoóh a’doóh nắc bơơn taanh nan long mốt pazưm lâng bấc cơnh taanh bhrợ lalay liêm, nhâm mâng bhlâng, nắc buôn đoọng ha ta mooi chr’nắp, cher đoọng ha chuíh gia xao bhrợ cơnh jập đồ. T’coóh Zuông Noonh, 75 c’moo, cóh vel Ga Lêê, chr’val Tà Bhing, chr’hoong Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đoọng năl, xang bêl pr’đươi lêy taanh bhrợ bơơn pay đơơng chô, nắc ting lêy taanh bhrợ n’hâu ha dợ choom chêếh bhrợ, cắt lêy pậ tứi, đệ dal lalay cơnh: “Ha dang kiêng đươi dua đenh nhâm, l’lăm nắc lêy taanh bhrợ mưy pr’đươi hâu, zâp pr’đươi nâu lêy trâm đớc cóh lụ đác đoọng bhrợ nhâm mâng lấh. Xang bêl bhrợ nắc đợc cóh tir đông zr’nêệ. Lấh mơ, zâp chu đươi dua liêm xang nắc lêy đợc cóh tir đoọng oó choom k’muôr pa hư. Nâu đoo nắc râu chr’nắp âng zâp bh’nơơn pr’đươi taanh dzặc âng đhanuôr Cơ Tu bơơn bấc ngai kiêng. Lấh mơ nắc ta mooi du lịch.”
Tơợ đợ pr’đươi ơy váih cóh crâng, lâng a’cọ a’bục bhriêl ta bách lâng tr’pang têy zay đa đấh âng đay, pân jứih Cơ Tu nắc ơy bhrợ pa dưr đợ bh’nơơn pr’đươi chr’nắp lâng đợ văn hoá ch’nắp. Lướt zi lấh bấc c’moo c’xêê, bh’rợ taanh dzặc ty chr’nắp ting t’ngay ting pa dưr liêm lấh, chrooi pa xoọng bhrợ k’van chr’nắp văn hoá ty âng đhanuôr Cơ Tu.
Ting cơnh t’coóh Hồ Tấn Cường, Phó Gíam đốc Sở văn hoá, Thể thao lâng Du lịch tỉnh Quảng Nam, đoọng zư lêy lâng pa dưr đợ râu chr’nắp âng bh’rợ ty cóh vel đông, tơợ bấc c’moo đâu, tỉnh Quảng Nam nắc ơy k’rong đoọng zên pa dưr cơ zâp bh’rợ ty chr’nắp, ooy đâu vêy bh’rợ taanh dzặc âng đhanuôr Cơ Tu. T’coóh Hồ Tấn Cường moon, kiêng zư lêy zâp râu chr’nắpvăn hoá, ooy đâu vêy bh’rợ ty chr’nắp nắc l’lăm lêy bhrợ pr’đơợ đoọng ha đhanuôr bơơn mamung lâng bh’rợ: “Tơợ đợ c’moo 2000, azi nắc ơy vêy mưy cr’noọ bh’rợ pa dưr pa xớc văn hoá âng đhanuôr acoon cóh tơợ xa nập xập, ch’na đh’nắh, pr’hát xa nưl, taanh dzặc xang nặc zâp j’niêng cr’bưn âng đhanuôr đoọng p’têết pazưm lâng bh’rợ pa dưr pa xớc zâp bh’rợ du lịch. Cơnh nắc vel bhươl du lịch cộng đồng Zơ Ra cóh Nam Giang lâng nắc vel Bh’hôồng, Đh’rôồng cóh chr’hoong Đông Giang. Đhanuôr hêê vêy zên pa chô nắc apêê vêy váih pr’đơợ zư lêy đợ chr’nắp văn hoá.”
Bh’rợ ty chr’nắp âng đhanuôr Cơ Tu, ooy đâu vêy bh’rợ taanh dzặc xoọc bơơn bhrợ pa dưr pa xớc cắh mưy bhrợ liêm crêê cơnh cr’noọ đươi dua âng zâp pr’loọng đông lâng đhanuôr, nắc dzợ bấc pr’đươi ơy váih pr’đươi lưu niệm, pr’đươi đoọng ha bh’rợ du lịch lâng pr’đươi xuất khẩu... âng đơơng thu nhập têêm ngăn đoọng ha đhanuôr cóh k’coong ch’ngai Quảng Nam./.

Nghề đan lát của người Cơ Tu
( Alăng Lợi)
Đồng bào Cơ Tu sống tập trung ở 3 huyện Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang, tỉnh Quảng Nam; huyện A Lưới, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và một bộ phận ở thành phố Đà Nẵng. Người Cơ Tu vùng núi Quảng Nam có nhiều nghề thủ công truyền thống khác nhau như: nghề điêu khắc gỗ, nghề rèn, nghề dệt vải thổ cẩm, nghề làm gốm, nghề dệt chiếu,... nhưng có lẽ nghề đan lát là một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời.
Trong ngôi nhà sàn nhỏ của mình, ông Pơloong Dzin ở thôn Abát, xã Chà Vàl, huyện miền núi Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đang miệt mài ngồi đan gùi từ những sợi mây đã chẻ nhỏ và vót đều. Ông Dzin chia sẻ, từ nhỏ ông đã được cha dậy đan lát truyền thống. Lúc lên 8tuổi, ông đã biết đan những vật dụng kỹ thuật đơn giản như nong, nia. Đến tuổi 18 đôi mươi, ông đã đan thành thạo tất cả các vật dụng, kể cả những vật dụng đòi hỏi sự khéo léo, kỹ thuật đan khó. Ông Dzin cho rằng, trong cuộc sống hàng ngày hay trong lễ hội, người Cơ Tu sử dụng rất nhiều vật dụng từ nghề đan lát truyền thống của dân tộc. Đó là nong, nia sẩy lúa, mâm ăn cơm, chiếu, gối… và đặc biệt là nhiều loại gùi với mẫu mã và công dụng khác nhau. Tất cả được đan bởi sự nhẫn nại, khéo léo và sáng tạo của những người đàn ông Cơ Tu:“Nghề đan lát cũng khó. Thế nhưng không phải không làm được. Việc đan lát nó cũng giống như dệt vải của phụ nữ. Mỗi sản phẩm làm ra đều thể đôi tay khéo léo và quan trọng hơn hết là nó thể hiện sự cần mẫn, tỷ mỉ của người đan. Đặc biệt, kỹ thuật đan gùi của đàn ông là khó nhất”
Nguyên liệu để người Cơ Tu làm ra các sản phẩm đan lát thủ công truyền thống là mây, tre, lồ ô, dứa... lấy trong rừng. Kỹ thuật đan lát của người Cơ Tu rất phức tạp, tùy thuộc vào từng sản phẩm mà áp dụng nhiều kỹ thuật đan khác nhau. Gùi vận chuyển lúa được đan với nan long mốt; gùi củi thì được đan nan hình lục giác hoặc đan bằng mây với dạng hình thang cân; gùi gạo, lúa được đan bằng mây dày với nan long mốt, kết hợp với kỹ thuật chéo phức tạp dáng hình ống, vành miệng tròn đáy hình vuông... Ta-lêêc (gùi đàn ông) và gùi đựng đồ dùng trang sức và thổ cẩm thì được đan nan long mốt kết hợp với nhiều kỹ thuật đan tinh xảo khác nhau; có độ bền rất cao, chỉ dùng làm quà biếu cho khách quý, tặng sui gia hay làm vật sính lễ. Ông Zuông Noonh, 75 tuổi, ở thôn Ga Lêê, xã Tà Bhing, huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam cho biết, sau khi nguyên liệu được lấy về, tùy từng loại sản phẩm có thể chẻ, vót thàn nan to, nhỏ, mỏng, dày: “Nếu muốn sản phẩm sử dụng được lâu bền, trước khi đan thành một sản phẩm gì, các nguyên liệu phải được ngâm trong bùn nước để tạo độ dẻo và bền. Và sau khi đã hoàn thành một sản phẩm bà con thường treo hoặc gác trên giàn bếp. Thậm chí mỗi lần sử dụng xong cũng phải thường xuyên để trên giàn bếp để tránh khỏi bị mọt, tạo cho sản phẩm có độ bền và bóng. Đó cũng là ưu điểm của sản phẩm đan lát của đồng bào Cơ Tu được nhiều người thích. Đặc biệt là khách du lịch.”
Từ những vật liệu sẵn có trong rừng, với đầu óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của mình, đàn ông Cơ Tu đã tạo nên những sản phẩm đa dạng và phong phú với những hoa văn độc đáo. Qua bao thăng trầm, nghề đan lát truyền thống ngày càng được cải tiến hoàn thiện hơn, góp phần làm giàu vốn văn hoá truyền thống của đồng bào Cơ Tu.
Theo ông Hồ Tấn Cường, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị nghề truyền thống của địa phương, từ nhiều năm nay, tỉnh Quảng Nam đã đầu tư kinh phí để khôi phục lại các nghề truyền thống, trong đó có nghề đan lát của đồng bào Cơ Tu. Ông Hồ Tấn Cường cho rằng, muốn giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa, trong đó có nghề truyền thống thì trước tiên phải tạo điều kiện cho bà con sống được bằng nghề: “Ngay từ những năm 2000, chúng tôi đã có một ý tưởng phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số từ trang phục, ẩm thực, các dân ca dân vũ, đan lát rồi các phong tục tập quán của đồng bào để gắn với công tác phát triển các mô hình du lịch. Điển hình nhất là làng du lịch cộng đồng Zơra ở Nam Giang và sớm hơn nữa là thôn Bh’hôồng, Đh’rôồng của huyện Đông Giang. Đồng bào mình có thu nhập thì người ta mới có điều kiện bảo tồn những giá trị văn hóa.”
Nghề truyền thống của đồng bào Cơ Tu, trong đó có nghề đan lát đang dần được khôi phục, phát triển không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của mỗi gia đình và cộng đồng, mà nhiều vật dụng đã trở thành đồ lưu niệm, sản phẩm phục vụ du lịch và hàng xuất khẩu ... mang lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình ở vùng cao Quảng Nam ./.
Viết bình luận