Zấp c’moo, moọt c’xêê 6-7, bêl hân noo chooi choọt âi ặ u xang, đợ đác tộm zr’lụ đha nuôr Cơ Tu ma moong âi u rêệ, nâu đoo nắc bêl đoọng apêê pân đil Cơ Tu pr’zước lướt ta ha túuc.
Z’nấc âng ma nứih Cơ Tu bơơn bhrợ tơợ tơơm bh’nương cóh crâng cắh cậ cóh ha rêê, vêy bha lâng k’tứi, l’boọt, dal tơợ 1-1,5m cơnh lâng ga mắc dâng 0,5 cm. N’căr n’loong n’nâu vêy 2 clang: Clang cóh nguôi vêy pr’hoọm bhr’luuc, clang cóh cr’loọng pa zêng bấc n’jéh cr’tứi.
Ma nứih Cơ Tu pay tơơm bhơ nương, xang n’nắc loó n’căr clang nguôi, ha dợ clang bhoóc nắc đoọng đoọng bhrợ n’jéh a ngoon. n’jéh a ngoọn âng tơơm bhơ nương xang bêl puốh pa goóh, bấc bêl doó tr’vâng, a đhi a moó pay bhlí lâng piêl đoọng buôn dzắc z’nấc. z’nấc bơơn dzắc tơợ apêê tơơm bhơ nương vêy mắt cách, z’zăng mâng, choom đươi dua đanh nắc doó k’pân hư zớch.

Ma nứih Cơ Tu zr’lụ dúp, buôn đươi n’toọng clơng đoọng taanh võng, lái, bhrợ a ngoọn m’béh… n’đhang bấc nắc nắc dzắc bhrợ z’nấc. kiêng dzăc z’nấc, pân đil Cơ Tu buôn đấc ooy ha rêê, cắt pay ha la clơng, puốh pa goóh, xang nắc đươi a chị k’tuốih mị n’đắh ha la, nắc muy dzợ đợ clang ha la bhoóc. Xang n’nắc, bhlị bhrợ đợ n’jéh bhoóc n’nâu váih đợ n’jéh ga mắc lấh lâng dal lấh piêl bhrợ ting piêl ga mắc đoọng đươi dua.
N’dhdơ bhrợ z’nấc lâng tơơm bhơ nương, cắh cậ tơợ ha la clơng nắc nâu đoo công nắc pr’đươi bấc âng pân đil Cơ Tu đươi dua đoọng bơơn a xiu cóh toọm đác buôn bặ…
Ting cơnh bh’rợ tơợ a hay âng ma nưuíh Cơ Tu, l’lăm a hay kiêng bơơn bấc a xiu, buôn bhlâng nắc pay ha la gơ ni, đươi dzung đơợ pa nhoonh, xang nắc p’loong cóh tu toọm. a xiu cha há mắt dưr cr’pâl, nâu bêl đoọng pân đil Cơ Tu đươi z’nấc ha tuuc buôn bhlâng.
Ma nứih Cơ Tu zr’lụ da ding ca coong Quảng Nam lâng pr’ặt tr’mông p’pănh, l’lái, za nươr ooy crâng ca coong toọm đác. Tu cơnh đêếc, ma loom zư lêy môi trường tơợ tơơm n’loong pa tước tu đác ta luôn bơơn đha nuôr pa ghít lêy. Bh’rợ t’bơơn a xiu công cơnh đêếc, k’dâng lêy đha nuôr nắc muy t’bơơn a xiu pa pậ, a xiu cr’tứi nắc chô p’loh băn…
Xoọc đâu, ma nứih Cơ Tu cóh apêê chr’hoong da ding ca coong Nam Giang, Đông Giang lâng Tây Giang âng tỉnh Quảng Nam hắt lướt t’bơơn a xiu lâng z’nấc. Pr’ặt tr’mông nâu câi âng đha nuôr công r’dợ bơơn ha dưr dal đươi vêy chính sách, chủ trương âng Đảng, Nhà nước lâng apêê zên k’rong bhrợ tơợ apêê bh’rợ xa nay, dự án. N’đhơ pr’ặt tr’moong âi z’zăng lấh, c’lâng c’tốch liêm cra lấh, n’đhang đanh đanh công dzợ bơơn lum apêê a mế, a moó Cơ Tu pr’zước lướt ta ha túuc. Pa bhlâng nắc, bêl apêê tour du lịch vel bhươl bơơn bhrợ pa dưr, bấc pr’loọng đong âi năl đươi dua đợ râu âi vêy l’lăm cóhc râng bhơi đoọng taanh dzắc, íh bhrợ pr’hêl ha t’mooi du lịch. Đươi cơnh đêếc, đha nuôr Cơ Tu zr’lụ da ding ca coong Quảng Nam vêy p’xoọng râu pa chô, pr’ặt tr’mông bơơn bhrợ pa dưr choom hơnh déh./.

NGƯỜI CƠ TU MƯU SINH VỚI CHIẾC VỢT CÁ
CTV Nguyễn Văn Sơn
Tập quán đánh bắt cá trên sông, suối của đồng bào Cơ Tu vùng núi tỉnh Quảng Nam hình thành từ lâu đời trong những lúc nông nhàn. Việc đánh bắt cá không chỉ nhằm tìm kiếm nguồn thực phẩm phục vụ cuộc sống hằng ngày mà còn dùng để tích trữ cho mùa giáp hạt và cả việc phục vụ các lễ hội truyền thống của làng.
Hằng năm, vào tháng 6-7, khi mùa vụ đã gieo trồng tạm xong, mực nước các con sông, suối khu vực người Cơ Tu sinh sống đã cạn dần, đây là thời điểm những người phụ nữ Cơ Tu rủ nhau đi đánh bắt cá bằng vợt.
Vợt xúc cá (zờ nấc) của người Cơ Tu được làm từ cây bhơ nương mọc hoang trong rừng hoặc cây bhơ nương được trồng trên nương rẫy, có thân nhỏ, dẻo, cao từ 1 - 1,5m với đường kính khoảng 0,5cm. Vỏ cây này có 2 lớp: Lớp ngoài cùng màu xám xanh, lớp thứ hai gồm những sợi nhỏ và được sử dụng lấy sợi.
Người Cơ Tu khai thác cây bhơ nương về, dùng dao bóc bỏ lớp vỏ ngoài, còn lại lớp vỏ lụa để lấy sợi. Sợi của cây bhơ nương sau khi hong khô, những lúc nông nhàn, chị em phụ nữ thường dùng tay se những sợi nhỏ lại với nhau cho chắc và quấn thành bó để đan dần. Vợt được chế tác từ vỏ cây bhơ nương có mặt lưới dày, khá bền chặt, có thể dùng lâu dài mà không sợ hư hỏng.
Người Cơ Tu vùng thấp (hay còn được gọi là Cơ Tu Phương), thường dùng cọng của lá cây dứa để lấy sợi đan võng, lưới, làm dây câu cá…nhưng chủ yếu là đan vợt xúc cá. Muốn đan vợt, phụ nữ Cơ Tu thường lên nương rẫy, cắt lá dứa mang về, phơi cho héo, sau đó dùng dao cạo lớp ngoài ở hai mặt lá, chỉ còn lại những sợi tơ trắng. Sau đó, se những sợi tơ trắng này thành sợi tơ lớn hơn và dài hơn cuốn lại thành gùi để dùng dần.
Dù làm vợt bằng cây bhơ nương, hay từ cọng của lá cây dứa thì đây cũng là dụng cụ phổ biến mà phụ nữ Cơ Tu dụng để bắt cá dưới sông, suối cho thuận lợi…
Theo truyền thống của người Cơ Tu, trước đây muốn bắt được nhiều cá, bà con dùng cách đơn giản nhất là cắt lá ngải (gờ ni), dùng chân đạp nát, sau đó thả trên đầu nguồn khe, suối nhỏ. Cá bị cay mắt chạy lung tung, đây là cơ hội thuận lợi nhất để phụ nữ Cơ Tu dùng vợt vớt cá rất hiệu quả …
Người Cơ Tu vùng núi Quảng Nam với cuộc sống săn, bắt, hái, lượm dựa vào thiên nhiên. Chính vì thế, ý thức bảo vệ môi trường từ cây rừng tới nguồn nước luôn được bà con chú trọng. Việc đánh bắt cá cũng vậy, hầu như người dân chỉ đánh bắt cá to, cá nhỏ thả lại về môi trường nhằm tái sinh nguồn lợi thủy sản…

Hiện nay, người Cơ Tu ở các huyện miền núi Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang của tỉnh Quảng Nam ít đi đánh bắt cá bằng vợt. Cuộc sống ngày nay của bà con cũng dần được nâng cao nhờ chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các nguồn vốn đầu tư từ các chương trình, dự án. Mặc dù cuộc sống đã khấm khá hơn, giao thông buôn bán thuận lợi, nhưng thi thoảng vẫn bắt gặp các mẹ, các chị em Cơ Tu rủ nhau xuống suối bắt cá bằng vợt. Đặc biệt, khi các tour du lịch cộng đồng được hình thành, nhiều hộ gia đình đã biết tận dụng các nguyên liệu dồi dào từ thiên nhiên để đan lát, thêu dệt phục vụ quà lưu niệm cho khách du lịch. Nhờ đó, bà con Cơ Tu vùng miền núi Quảng Nam có thêm nguồn thu nhập, chất lượng cuộc sống được cải thiện đáng kể./.
Viết bình luận