Zấp t’ngay, tơợ đong đhr’nêếh âng pr’loọng đong a noo Mùa A Giàng cóh Bản Mới, chr’val Hồng Ngài, chr’hoong Bắc Yên, tỉnh Sơn La, đơơr đh’đhêếh đh’rứah lâng xa nul mụ tươn ooy apêê n’jéh nam công dzợ dưr đơơr mr’cơnh. Tơợ đong đhr’nêếh n’nâu, đợ pr’đươi cơnh: Dao, quốc, xẻng bhrợ t’váih ta luôn bơơn đha nuôr kiêng. L’lăm a hay ma nứih bhrợ bha lâng ắnc ca conh Giàng, xang n’nắc a nô lêy nâu đoo nắc bh’rợ vêy pr’đơợ liêm đoọng ha pr’loọng đong, tu cơnh đêếc âi t’bhlâng pa choom đh’đhêếh tơợ ca conh. Đợ n’nâu a hay, ca conh cắh dzợ ma mông, a noo p’têệt pa dưr lâng bhrợ pa tước nâu câi. Tr’nơợp công nắc đoọng bhrợ ha cr’noọ âng pr’loọng đong, xang bấc ngai t’mooh câl chô đươi dua liêm choom, ma nứih n’nâu moon lâng ma nứih tốh, r’dợ apêê đoo tước chơớc câl ting t’ngay ting bấc, apêê t’mooi zấp n’đắh tước đâu công âi tước câl đoọng chô dông cóh đong, cắh cậ nắc câl chô đoọng bhrợ pr’hêl ha đhi noo, pr’zớc chr’ớh.

A noo Mùa A Giàng đoọng năl: Zấp t’ngay a noo đhêếh bơr bêệ a chị. Muy bêệ bơơn bhrợ t’váih cơnh lâng chr’nắp 250 – 300 r’bhâu đồng. Muy c’xêê a noo bơơn dâng 4 tước 5 ức đồng, zooi đoọng ha pr’loọng đong vêy p’xoọng râu pa chô: “L’lăm a hay nắc ca conh bha bhướp a năm bhrợ đoọng đươi dua cóh pr’loọng đong. Xoọc đâu a cu âi t’bhlâng pa choom lâng zư đớc nắc công t’bhlâng pa dưr đoọng ha lang t’tun, ng’cơnh choom bh’rợ đh’đhêếh n’nâu doó choom bil pật”.
Đoọng bhrợ t’váih bh’nơơn nắc kiêng vêy râu pa ghít âng ma nứih bhrợ. Pa đhang moon cơnh a chị. Nam bơơn cắt muy c’nặt dal dâng 20 cm, cơợng dâng tra muy bóh ooy ta pêếh tước bêl u rơơng nắc huốt pay, pay mụ tươn đoọng nam c’đặ r’dợ. âi bóh ooy ta pêếh rơơng nắc huốt pay tươn cậ, ặt cơnh đêếc tước bêl nam dal, c’đặ dưr váih a chị nắc vêy pa xuôr ooy đác, cắh cậ ooy dầu nhớt, bha lâng prí đoọng bhrợ t’proọng váih acoon a chị. A chị vêy zấp râu, pậ tứi zấp cơnh… L’lăm a hay, đoọng bơơn bhrợ muy bh’nơơn đhr’nêếh, záp râu bh’rợ zêng bơơn bhrợ lâng têy, tơợ bh’rợ cắt nam pa tước câm óih… lâng ca chắh coong nắc ca chắh âng apêê n’loong griing cóh crâng. Nâu câi, đong a noo cắh dzợ đươi ca chắh n’loong nắc đhêếh ca cắh đhêl, vêy máy hút, máy cắt nam công bơơn pa xiêr c’rơ pa bhrợ.
N’dhơ cơnh đêếc ting a noo Mùa A Giàng: Đoọng bhrợ đợ acoon a chị, pr’đươi âng lấp lâng mâng, nắc chr’nắp nắc choom chơớih pay đợ nam liêm lâng vêy kiêng vêy z’hai tốc bóh nam cóh bêl bhrợ: “Cóh bêl đhêếh, ha dang bóh nam cắh âi liêm rơơng nắc bh’nơơn cắh lấh choom lấp lâng proọng, cắh choom đươi u đanh, ha dang bóh đhị óih la lấh rơợng nắc buôn pa đoóh, tr’vêếh, bắh. vêy bấc cơnh pa xuôr nam, vêy râu nắc pa xuôr lâng đác chriết, vêy đoo nắc pa xuôr lâng bha lâng prí lâng công vêy đoo nắc pa xuôr lâng dầu nhớt. Tu cơnh đêếc nắc choom pa xuôr ng’cơnh choom nam vêy zấp u proọng lâng chriết nắc vêy choom”.
Prang chr’val Hồng Ngài lấh pr’loọng đong a noo Mùa A Giàng nắc dzợ bơr pr’loọng ma nứih Mông n’lơơng dzợ công xoọc zư đớc, pa dưr bh’rợ đh’đhêêh. Zấp pr’đươi pr’dua bơơn apêê đong đh’đhêêh n’nâu bhrợ t’váih zêng bơơn đha nuôr lâng t’mooi kiêng, chơớc câl đươi dua tu râu nhâm, lấp liêm tr’haanh âng bh’nơơn.
Bhrợ têng ting dự án pa xiêr đha rựt cr’chăl 2 tợơ c’moo 2015-2018 nắc zấp đong đh’đhêêh bơơn zooi đoọng lấh 30 ức đồng đoọng apêê c’la đong đh’đhêếh k’rong bhrợ, bhrợ bhr’lậ cớ bh’rợ dhd’đhêếh. N’đhơ cơnh đêếc, đợ pr’loọng zư đớc bh’rợ cóh chr’val cắh dzợ vêy bấc. Đoọng t’bhlâng k’đhơợng bhrợ pa dưr bh’rợ n’nâu, t’coóh Mùa A Chồng, Chủ tịch UBND chr’val Hồng Ngài moon: “Tước đâu công k’đươi Đảng, Nhà nước t’bhlâng k’rang tước zooi đoọng muy hun zên đoọng k’đhơợng zư lâng pa dưr apêê bh’rợ ty đanh âng vel đong. Ha dang cắh vêy râu zooi đoọng nắc apêê bh’rợ ty đanh moon za zum lâng bh’rợ đh’đhêếh âng acoon cóh moon la lay r’dợ bil pật lâng vêy xăl đoọng r’dợ lâng apêê pr’đươi cóh thị trường lâng muy bơr bh’nơơn âng apêê acoon cóh buôn bil pật chr’nắp văn hóa”.
Bh’rợ zư đớc bh’rợ ty đanh, cóh đêếc vêy đh’đhêếh âng đha nuôr Mông công nắc đoo zư đớc, pa dưr apêê chr’nắp văn hóa acoon cóh./.
Nghề rèn của người Mông ở Hồng Ngài
Thào Ly
Nghề rèn của đồng bào Mông có từ lâu đời và các sản phẩm rèn của người Mông có tiếng bởi độ bền, tinh xảo với bí quyết riêng. Bây giờ, nghề rèn thủ công của đồng bào Mông không phát triển mạnh như xưa, nhưng ở một số vùng, nghề này vẫn được bà con gìn giữ.
Ngày ngày, từ lò rèn của gia đình anh Mùa A Giàng ở Bản Mới, xã Hồng Ngài, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, tiếng rèn cùng với tiếng búa đập vào những thanh sắt vẫn vang lên đều đều. Từ lò rèn này, những vật dụng như: Dao, quốc, xẻng làm ra luôn được bà con ưa chuộng. Trước đây người làm chính là bố anh Giàng, rồi anh thấy đây là nghề có lợi cho gia đình, nên đã cố gắng học cách rèn từ bố. Sau này bố mất, anh kế nghiệp và làm cho đến bây giờ. Lúc đầu cũng chỉ là để phục vụ cho nhu cầu của gia đình, sau nhiều người hỏi mua mang về sử dụng thấy tốt, người này bảo người kia, dần dần người đến tìm mua và đặt hàng ngày một đông hơn, cả các du khách thập phương đến đây cũng tìm tới mua để mang về treo trong nhà, hoặc mua về để làm quà biếu cho anh em, bạn bè.
Anh Mùa A Giàng cho biết: “Mỗi ngày anh rèn được hai con dao hoàn chỉnh, Mỗi con dao làm ra được bán với giá 250-300 nghìn đồng. Một tháng anh kiếm được khoảng 4 đến 5 triệu đồng, giúp cho gia đình có thêm nguồn thu:“Trước kia thì cha ông làm chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong gia đình. Hiện nay mình đã cố gắng học và lưu giữ được thì cũng phải cố gắng bảo tồn và phát huy truyền dậy cho thế hẹ sau để nghề rèn này không bị mai một”.
Để làm một sản phẩm đòi hỏi sự tỷ mỷ của người làm. Ví dụ như sản phẩm Dao. Sắt (Chủ yếu là từ nhíp ô tô) được cắt đoạn dài khoảng 20 cm, với độ dày khoảng 1 ngón tay cho vào lò than nung tới khi sắt đỏ lên thì bỏ ra, dùng búa tán cho sắt mỏng dần. Cứ cho vào lò nung đỏ lại đưa ra tán như thế cho tới khi miếng sắt có độ dài, mỏng hẳn thành hình con dao mới cho vào nước, hoặc dầu nhớt, thân cây chối để tôi thêm lần nữa để tạo thành con dao hoàn chỉnh. Dao có nhiều loại: loại lưỡi dày để chặt những vật cứng hoặc thân cây to thì không tán mỏng quá; loại lưỡi mỏng để thái những vật nhỏ, thái thịt thì phải tán nhiều hơn…Trước đây, để làm được một sản phẩm rèn, tất cả các khâu đều được làm thủ công bằng tay, từ khâu cắt sắt, thép cho đến đốt lò…và than cũng là than của các cây gỗ trong rừng. Bây giờ, nhà anh không còn dùng than gỗ nữa mà rèn bằng than đá, có máy thổi lò, máy cắt sắt, thép cũng giảm được đáng kể sức lao động.
Tuy nhiên theo anh Mùa A Giàng: Để làm được những con dao, vật dụng có độ sắc bén và bền, thì quan trọng là phải chọn được những loại sắt tốt và đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật tôi sắt trong khi làm:“Trong lúc rèn, nếu tôi sắt chưa đủ độ nóng thì sản phẩm non, không dùng lâu được, mà tôi quá lửa lại hay bị gẫy, sứt, mẻ. Có nhiều cách tôi sắt, thép khác nhau, có loại thì tôi bằng nước lã, có loại thì lại tôi bằng thân cây chuối và cũng có thể bằng dầu nhớt. Do vậy phải tôi làm sao để sắt, thép có đủ độ rắn và độ lạnh mới được”.
Cả xã Hồng Ngài ngoài gia đình anh Mùa A Giàng thì còn hai hộ dân tộc Mông nữa cũng đang lưu giữ, phát triển được nghề rèn truyền thống. Tất cả những vật dụng được các lò rèn này làm ra đều được bà con và du khách ưa chuộng, tìm mua về sử dụng bởi độ bền, chất lượng có tiếng của sản phẩm.
Thực hiện theo dự án giảm nghèo giai đoạn 2 từ năm 2015-2018 thì mỗi lò rèn được hỗ trợ hơn 30 triệu đồng để các chủ lò đầu tư, sửa chữa, khôi phục lại nghề rèn. Tuy nhiên, số hộ gia đình lưu giữ nghề ở xã còn rất ít. Để tiếp tục duy trì và phát triển nghề truyền thống này, ông Mùa A Chồng, Chủ tịch UBND xã Hồng Ngài nói:“Tới đây cũng đề nghị Đảng, nhà nước tiếp tục quan tâm hỗ trợ một phần kinh phí để duy trì và phát huy các nghề truyền thống của địa phương. Nếu không có hỗ trợ thì các nghề truyền thống nói chung và nghề rèn của dân tộc nói riêng dần dần sẽ bị mai một và sẽ thay thế dần bằng các vật dụng trên thị trường và một số sản phẩm của dân tộc sẽ mất đi dần giá trị văn hóa”.
Việc bảo tồn, gìn giữ nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề rèn của đồng bào Mông cũng chính là gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc /.
Viết bình luận