Nắc đoo trường vel Cam âng Trường Mầm non Ban Mai, chr’val Gia Phú, chr’hoong Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tơợ trường bha lâng kiêng đấc ooy trường n’nâu nắc z’lấh bơr c’nặt c’lâng. C’nặt c’lâng tr’nơợp tơợ trung tam chr’val, trúih ting c’lâng 152 chô n’đắh Sa Pa; c’nặt c’lâng bơr nắc booi pa rạch cớ ting acoon c’lâng k’tiếc ga ving a ral da ding đha đấc tếh a têy, plêêng p’răng xe máy dzợ cắh mặ đha đấc, plêêng boo nắc c’lâng c’tiêr cơnh n’tóh n’xiêng, nắc muy lướt bộ a năm đoọng đấc.

Trường vel Cam nắc muy c’bhúh đong ta pác bhrợ 4 gian. Gian m’pâng bhrợ lớp học, n’đắh a toọm bhrợ đong zư đớc đh’râu đh’rí, n’đắh a đai nắc đong bệch âng cô trò lâng x’ría hơớc nắc đông ta pêếh. Prang zr’lụ nắc dzợ bơr pêê đhr’nong đong bhrợ váih muy trung tâm vel zêng ma nứih Dao. Moon nắc trung tâm tu bấc nắc apêê pr’loọng dzợ ặt cóh dal lấh, đhị đêếc đăn bhlâng công 5-6 cây số c’lâng crâng.
Bêl azi tước, cô Nguyễn Thị Thu Hường têy ha mệ muy cha nắc p’niên n’đil lướt prang zr’lụ tang k’tứi đhị p’loọng lớp, n’jứah lướt n’jứah hơnh, acoon p’niên mắt bhrông tu rêên pa hi cắh toọ bhâu. Cô giáo n’jứah ha đhí n’jứah dzụt đác mắt, n’jứah moon “ A đoo đhêêng 2 c’moo ha dợ, t’mêê lướt học lêếh ca căn ặt lâng cô prang tuần, t’ngay đâu cóh vel vêy bh’rợ xay xơ, bha bhướp tơợ đong lướt z’lấh trường, u bơơn lêy nắc ta pun rêên, da dô lêy”.
Cô Chảo Thị Thủy xoọc pa choom đoọng ha p’niên pa choom tô cóh lớp đơơr xơợng: “ Nâu câi âi z’zăng, bêl tơợp c’moo học apêê p’niên, pa bhlâng nắc apêê p’niên k’tứi t’mêê lướt học dzợ rêên toong t’ngay toong ha dum, muy chu puôn xơơng cha nắc rêên, apêê cô nắc têy dzung cắh đhêy.”
Cóh m’pâng lớp học k’tứi, 6 bêệ pa pan muy bêệ muy cơnh ra pặ tr’đăn, k’zệt p’niên k’tứi tợt toor đêếc p’zay tô đợ x’rắ gur găr đhị râu tr’clá tơợ p’loọng a lúc. Lớp học công vêy zấp bóng điện, chr’đhí trần, n’đhang cắh bặt, đớc đoọng ma múc boọ prang. T’moóh nắc vêy năl đợ apêê n’nâu tơợ t’ngay chóh trường âi vêy, n’đhang n’tơợ vêy điện, pa lắc đớc lơi nắc cơnh.
N’đhơ ặt k’đhơợng bhrợ pr’đhang bán trú, n’đhang cắh vêy cơnh đha nuôr băn. Cóh trường vel Cam, muy p’niên nắc muy đ]ơng kía oôy râu zooi đoọng cha cha đhâng 6.000 đồng/t’ngay âng nhà nước, nắc muy p’niên tơợ 3 c’moo nắc a tếh vêy bơơn. Tu ặt toong t’ngay, tu cơnh đêếc đợ zên n’nắc nắc c’bơớch, pác đoong ha pêê g’lúh cha cha.
Thủy xay moon: Zên cắh vêy đợ mơ, tu cơnh đêếc ch’na âng lớp công cắh vêy râu rí, prang tuần nắc đhi a vir cr’liêng a tứch, a xiu ma xịn lâng chi póc. Cắh vêy điện đoọng đươi tủ lạnh tu cơnh đêếc nắc cắh choom zư đớc ch’na. Thứ bơr nắc muy t’ngay n’nắc a năm vêy lêệ a óc, apêê cô k’rong zên câl đơơng, nắc đoo công nắc t’ngay c’bhúh p’niên p’rơơm bhlâng, pay pr’đơợ đoọng ha prang tuần lướt học.
“Ch’na choom t’ping ting g’lúh, đhêêng cơnh thứ 6 buôn nắc cr’liêng a tứch a đha đoọng zấp chất ha p’niên dzợ vêy c’rơ chô ooy đong. Dâng 10h ra diu nắc ca conh ca căn tước pay, nắc tước ha bu vêy mặ tước đong. T’ngay chô cô nắc t’moọt đoọng muy cha nắc muy gói mì tôm đoọng trúih c’lâng cha đoọng doó lấh ha ul, cơnh đêếc groọm mì tôm, c’bhúh p’niên choom kiêng cha mì tôm câi a năm…” cô Thủy trúih.
“Mì tôm công nắc tơợ apêê liêm loom tước đoọng, vêy bấc nắc c’bhúh p’niên vêy p’xoọng cha cha ra diu. Cóh đâu zấp râu công lướt zước, p’too moon zấp đhị. Bêl đêếc a hay vêy a noo tơợ Hà Nội bơơn năl nắc tước zooi đoọng muy tạ ch’nêếh…”, cô Thủy t’lác lêy ooy grăng ch’nêếh đớc đhị toor ta pêếh, grăng ga mắc n’đhang ch’nêếh âi lấh k’noọ lứch.
A pướih ch’na pa glúh, p’niên nắc tợt ga ving muy cha nắc muy za hương bing ma tợt za hố cha, cô giáo doó dzợ pa xuôl ha ngai. Ch’na veye bơr râu, cr’liêng a tứch a đha lâng bhơi ha bhêy, n’đhang k’dâng lêy cắh ngai kiêng cha bhơi. Lêy p’niên cha cha cắh mơ đanh nắc lứch, cô Hường c’chăng: “ tơợ bêl xiêr học zấp p’niên công tọ bh’lọ, nắc k’pân muy bêl chô đhêy có đong nắc oóch cớ, cóh đong apêê đoo cha pom, tụ prớ bhoóh a năm.”
Cô Thủy vị c’bhúh khăn dzếp dzụt móh mặt, têy dzung đoọng ha pêê p’niên ting moon: “ Ca conh ca căn apêê prang c’moo nắc muy bêl Tết vêy lướt chợ muy chu, c’lâng nắc cơnh đêếc, mốp bênh, k’tiếc chóh zấp râu công cắh mặ chặt váih, đong vêy bh’rợ nắc vêy guy xiêr ooy phoó pa câl, công cắh mơ bấc zên.”
“Tơợp c’moo học ca conh ca căn chroi đoọng m’bứi óih ha cô giáo xang n’nắc pa đớp đoọng ca coon ha cô, hân noo ha ot công cắh năl pêê xập n’hâu, azi lứch k’rang lêy”, cô Thủy t’ngâr a cọ, trúih cớ “ Cóh đâu hân noo ha ọt cha kêệt, c’bhúh p’niên buôn ca ay, đơớh ra diu dưr zấp p’niên công hooi đh’mâl. Zấp bêl jéh ca ay, t’moóh ca ay đhị ooy, a pêê đoo cắh năl moon, nắc muy rêên p’rá Dao, apêê cô zr’nắh xr’dô k’rang lêy.”
Xang g’lúh cha cha đhâng nắc tước bêl tước lướt bệch. Đong bệch xiên xoon nắc đhêêng bhứah dâng 10 mét vuông, cốh cr’loọng bơr bêệ đh’rơơng n’loong xơơn bhrợ léh bệch, cóh piing pa lếp a lợ đoọng oó lấh k’ay hoọng. c’bhúh p’niên t’mêê t’bếch âi ặ bệch ngăn.
Pay đhr’num pa đhum ting cha nắc, cô Hường ca bơớp moon: “ Đoọng p’niên bệch m’xí, ha dum vêy choom đơớh bệch. Cóh đâu cắh vêy điện 5h ha bu âi ặ cha cha xang, 7h nắc lướt bệch ặ. Ha dum đanh apêê cô dzợ ặt méh,c ắh choom bệch, nắc muy rơơm kiêng tước x’ría tuần, apêê đoo bơơn chô, a đay công vêy choom chô./.”
Mẹ hiền của những đứa trẻ trên bản “leo”
An Kiên
Gia Phú – xã nằm giáp ranh với thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai nhưng ít ai nghĩ ở đó còn có một điểm trường mầm non trên cao, với hai cô giáo hàng ngày phải lo chạy ăn từng bữa cho mười mấy đứa trẻ xa bố mẹ, bởi chúng ở riết cả tuần mới về.
Đó là điểm trường bản Cam của Trường Mầm non Ban Mai, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Từ trường chính muốn lên điểm trường này phải qua hai chặng đường. Chặng đầu từ trung tâm xã, dọc theo Tỉnh lộ 152 về hướng Sa Pa; chặng hai phải rẽ ngược theo con đường mòn vắt nghiêng sườn núi chông chênh lên mãi trên cao, trời nắng xe máy còn ì ạch bò lên được, trời mưa thì đường trơn như đổ mỡ, chỉ có thể đi bộ để lên.
Điểm trường bản Cam là một dãy nhà ngang đơn sơ chia thành 4 gian. Gian giữa làm lớp học, bên phải làm kho trữ đồ, kế phía trái là phòng ngủ của cô trò và ngoài cùng là gian bếp. Xung quanh còn vài ba nóc nhà quây quần thành trung tâm của bản toàn người Dao. Gọi là trung tâm vì đa phần các hộ còn ở trên cao nữa, cách ít cũng 5 – 6 cây số đường rừng.
Khi chúng tôi đến, cô Nguyễn Thị Thu Hường tay bế một bé gái rong khắp khoảnh sân bé xíu trước cửa lớp, vừa đi vừa nựng, con bé mắt đỏ hoe ngặt nghẽo khóc không chịu nín. Cô giáo vừa quạt vừa lau vệt nước mắt trên hai gò má rám nắng của nó, vừa xuýt xoa: “Cháu mới hai tuổi thôi, vừa ra lớp đã tách mẹ ở cả tuần với cô, hôm nay trong thôn có đám cưới, ông nội từ trên nhà xuống đi ngang qua, nó trông thấy cứ bám theo khóc suốt đến tội”.
Cô Chảo Thị Thủy đang hướng dẫn bọn trẻ tập tô trong lớp vọng ra: “Bây giờ còn đỡ, hồi đầu năm bọn trẻ, nhất là những bé mới ra lớp còn khóc cả ngày cả đêm, một lúc bốn năm đứa cùng khóc, các cô cứ phải luôn chân luôn tay suốt”.
Giữa lớp học con con, 6 cái bàn mỗi cái một kiểu kê san sát nhau, mười mấy đứa trẻ ngồi xung quanh lúi húi tô những đường nguệch ngoạc dưới ánh sáng hắt qua các ô cửa sổ. Lớp học cũng có đủ bóng điện, quạt trần, nhưng không bật cứ để cho bụi bám. Hỏi ra mới biết những thứ này từ ngày xây trường đã có, nhưng làm gì có điện, lắp chờ vậy thôi.
Mặc dù duy trì theo mô hình bán trú, nhưng lại không phải dạng dân nuôi. Ở điểm trường bản Cam, mỗi đứa trẻ chỉ trông chờ duy nhất vào khoản hỗ trợ ăn trưa 6.000 đồng/ngày của nhà nước, mà chỉ trẻ từ lên 3 mới được. Vì ở lại cả ngày, nên số tiền đó phải chắt chiu, san sẻ cho ba bữa ăn.
Cô Thủy tâm sự: Kinh phí eo hẹp, nên thực đơn của lớp cũng đơn giản, cả tuần chỉ loanh quanh giữa trứng, cá mắm và lạc. Không có điện chạy tủ lạnh nên chẳng dự trữ được thức ăn. Thứ hai là ngày duy nhất có món thịt lợn tươi, các cô dồn tiền mua mang lên, đó cũng là ngày bọn trẻ con ao ước nhất, lấy làm động lực cho cả tuần đi học.
“Thực đơn phải cân đối từng bữa, riêng thứ 6 thường là món trứng để đủ chất cho bọn trẻ còn lấy sức về. Tầm 10h sáng là bố mẹ chúng phải có mặt đón rồi, cứ đi xuyên trưa lưng buổi chiều mới về tới. Hôm về cô lại dúi cho mỗi đứa một gói mì tôm để dọc đường đói có cái lót dạ mà đi tiếp, cứ bóc ăn sống vậy thôi, bọn trẻ con chẳng hiểu sao thích mì tôm lắm…”, cô Thủy ngậm ngùi.
“Mì tôm cũng là từ nguồn hảo tâm kéo về, được nhiều thì bọn trẻ có thêm bữa sáng. Trên này cái gì cũng phải đi xin, vận động đủ mọi kênh. Hôm lâu có một anh tận Hà Nội biết tin ủng hộ cho tạ gạo…”, cô Thủy ngượng nghịu nhìn sang thùng gạo để góc bếp, thùng thì to mà gạo thì đã vơi dần xuống đáy.
Mâm cơm bày ra, bọn trẻ quây quần mỗi đứa một tô đầy tự giác xúc ăn, cô giáo không phải bón thúc. Thức ăn có hai món, trứng xào và canh cải, nhưng hình như chẳng đứa nào thích ăn rau. Nhìn bọn trẻ ăn loáng một cái hết sạch phần cơm, cô Hường mỉm cười hạnh phúc: “Từ hôm xuống đi học đứa nào cũng béo ra, chỉ sợ những kỳ nghỉ hè các em lại gầy, ở nhà chúng chỉ có cơm trắng, vón cục cục chấm muối ớt ăn không thôi”.
Cô Thủy vò đám khăn ướt đem lau mặt mũi tay chân cho bọn trẻ thêm vào: “Bố mẹ chúng cả năm chắc chỉ ngày tết mới đi chợ một lần, đường thì thế mà đất đai cằn cỗi, trồng cái gì cũng khó, nhà có việc mới gùi xuống núi bán thì lại chẳng được bao nhiêu tiền”.
“Đầu năm phụ huynh góp được ít củi cho cô giáo rồi bàn giao con cho cô, cứ gửi người không thế thôi, mùa đông cũng chẳng cần biết chúng nó mặc gì nữa, các cô lại phải tự lo hết”, cô Thủy lắc đầu, kể tiếp: “Trên vùng cao mùa đông lạnh, bọn trẻ hay ốm luôn, sáng sớm dậy đứa nào cũng mũi dãi. Mỗi khi đau ốm, hỏi đau chỗ nào chúng không biết nói, chỉ khóc tiếng Dao, các cô xoay sở đến khổ”.
Sau bữa trưa giản đơn là đến giờ đi ngủ. Căn phòng ngủ chật hẹp chỉ độ 10 mét vuông, bên trong hai chiếc phản gỗ kê gọn gàng trên mặt đất, trên trải lớp chiếu cho đỡ đau lưng. Bọn trẻ vừa đặt lưng đã ngủ ngon lành.
Đưa tay kéo chăn đắp lên ngực từng đứa một, cô Hường thẽ thọt: “Cho bọn trẻ ngủ một chút thôi, tối còn ngủ sớm. Trên này không có điện 5h chiều đã xong cơm, 7h phải đi ngủ rồi. Đêm dài các cô còn thao thức mãi, chỉ mong đến cuối tuần, chúng nó được về, mình cũng được hạ sơn”./.
Viết bình luận