Cung cơnh bấc acoon cóh ắt mamung cóh zr’lụ Đông Nam Bộ, pân jứih pân đil acoon cóh S’tiêng buôn bhrợ năl, chấc lêy năl đh’rứah ooy zâp bhiệc bhan, xay xơ pr’zợc. Bêl ơy tr’kiêng, lêy tr’pay nắc anhi n’jứih n’đil xay moon lâng pr’loọng đông. Bhiệc lêy bhrợ l’lăm ooy bhiệc xay xơ nâu âng manứih S’tiêng nắc ta moóh. Ooy bêl ta moóh, đắh đông n’jứih k’đươi 2 cha’nặc bhrợ bhr’la lướt ooy đông n’đil đoọng lêy ta moóh. Bêl ta moóh nâu, đắh đông n’jứih, n’đil, t’coóh vel lâng manứih bhrợ bhr’la nắc đh’rứah lêy xay moon, zước nhăn jập đồ. Nâu đoo nắc mưy j’niêng cr’bưn ty đenh ơy váih tơợ ahay a’hươn lâng tước đâu, 2, 3 đhị dzợ ặt zư đợc. T’coóh vel Điểu Đố, acoon cóh S’tiêng cóh tỉnh Bình Phước moon: “Tr’nơợp bêl ta moóh, đắh đông n’jứih nắc lêy ra’văng jập đồ ting cơnh j’niêng cr’bưn ty chr’nắp âng đhanuôr. Đợ jập đồ đắh đông n’jứih âng đơơng ooy đông n’đil ting j’niêng cr’bưn zâp bêl cung váih pa’noọng bạc, a’ngoọn bạc”.
Ting cơnh t’coóh vel Điểu Đố, l’lăm ahay, đợ jập đồ zước nhăn âng đông n’đil moon nắc buôn lêy chr’nắp mơ k’conh n’đil bêl ahay lêy pay, xay xơ k’căn n’đil. Đhị apêê t’coóh vel, k’conh n’đil pay đợ r’réh lêy đoọng ooy manứih bhrợ bhr’la dáp lêy, đoọng năl đắh đông n’đil lêy zước nhăn ha mơ p’nong ta rí, k’roóc, a’ọc, zợ. Đhị đâu, manứih bhrợ bhr’la nắc lêy pazao đoọng ooy k’conh n’jứih. Ting cơnh j’niêng cr’bưn ty chr’nắp, ha dang đông n’jứih lêy đoọng zâp đợ jập đồ ooy đông n’đil nắc xang bêl xay bhiệc nhi đoo, đông n’jứih bơơn đơơng chô n’đil cắh cậ glúh ắt lalay, ha dang cắh ơy bơơn đoọng jập đồ nắc k’diịc lêy ắt cóh đông n’đil tước bêl chroót lứch nợ nâu. Nâu đoo nắc j’niêng cr’bưn âng manứih S’tiêng. P’căn Điểu Thị Kia, acoon cóh S’tiêng cóh tỉnh Bình Phước đoọng năl: “Nâu đoo nắc đợ jập đồ liêm chr’nắp văn hoá pazưm lâng đhanuôr, ooy đâu zâp jập đồ nắc lêy vêy coóih, pr’đươi buôn đươi ooy zâp bhiệc bhan âng manứih S’tiêng, lấh mơ nắc bhiệc bhan tắc ta rí, nắc ooy bêl xay bhiệc âng manứih S’tiêng cung lêy vêy jập đồ nâu nắc bhiệc nhăn xay bhiệc vêy liêm choom”.
Bêl ahay xang bêl bhiệc bhan ta moóh, bơr đắh pr’loọng đông choom bhrợ têng bhiệc pậ đoọng ha nhi n’đil n’jứih xang 1-2 c’moo, nắc xang bêl ta moóh, apêê pr’zợc nắc ơy dưr váih diịc điêl, hân đhơ cơnh đêếc, cắh ơy ắt zr’nưm. Ooy cr’chăl nâu, apêê nắc dzợ vêy choom lướt vốch zooi zúp đh’rứah bhrợ ha rêê, zư lêy đh’rứah bêl k’ay. Buôn lêy xang bêl ta moóh nâu 2 pr’loọng đông nắc bhrợ têng bhiệc xay. Đoọng ra văng ha bhiệc xay ga mặc nắc lêy buôn ta lêệng a’ọc, a’tứch, hân đhơ cơnh đêếc nắc lêy vêy mưy p’nong ta rí. Ting cơnh lang ahay, ooy bêl bhrợ bhiệc xay nâu, đắh đông n’jứih ra’văng mưy cặp xi noon, mưy n’đoóh, a’rạc lâng pa noọng đồng đoọng cher ha n’đil. Ha dợ đắh đông n’đil cung lêy ra văng bấc n’đoóh a’doóh zâp râu đoọng lêy cher đoọng ha pêê đắh đông n’jứih đoọng hơnh déh chuíh gia xao.
Ooy t’ngay xay xơ nâu, 2 đắh đông bhrợ têng bhiệc lêy k’đươi pr’zợc, bhúh xoọng lêy ặt cha, ôộm búah, n’toong chiing cha gâr đhị pr’đơợ bh’rợ r’rộ r’răm bhui har, zâp ngai nắc lêy đh’rứah hơnh déh anhi diịc điêl ắt mamung k’rơ liêm, têêm ngăn. P’căn Điểu Thị Kia đoọng năl: “Ooy bhiệc bhan xay xơ k’đươi zâp ngai 2 đắh tô bhúh, pr’loọng đông lêy zr’nưm bhui har ooy t’ngay nâu. Lấh mơ đợ lêệ la ta cha đắh ooy bhiệc, nắc zâp ngai ta k’đươi pấh bhiệc zêng vêy ta pác đoọng m’bứi lêệ la, bhrợ p’cắh râu đoàn kết, mưy c’cọ lêệ cung lêy tr’pác đh’rứah”.
Xang bêl bhrợ bhiệc mơ 1 tuần, n’jưíh nâu nắc đơơng chô k’điêl ooy đông đoọng xay moon p’cắh ooy a’bhô dang ta pêếh, a’bhô dang đông lêy năl, moon đoọng đhị n’đil nâu năl đhị bếch ắt ooy đông k’diịc. Bêl n’đil chô ooy đông n’jứih cung nặc bêl đoọng đông n’jứih âng đơơng zêng đợ jập đồ cắh ơy đoọng zấp ooy đông n’đil cơnh gr’hoót moon l’lăm, ha dợ đắh đông n’đil cung lêy đoọng ma mơ lâng đợ đắh đông n’jứih đoọng. đoọng zooi zúp ha đông n’đil, nắc đhi noo bhúh xoọng choom lêy zooi zúp bhiệc cher đoọng đợ pr’đươi, jập đồ âng đông n’jứih dzợ ta’bhứch cắh zấp.
Xoọc đâu đợ j’niêng cr’bưn nhăn xay bhiệc bhan âng pân jứih pân đil S’tiêng nắc ơy bơơn bhrợ têng ting cơnh pr’ắt tr’mung t’mêê, liêm buôn lấh. J’niêng cr’bưn lêy đoọng jập đồ nâu nắc lêy cắh dzợ, hân đhơ cơnh đêếc, bơr pêê râu văn hoá ty chr’nắp dzợ bơơn zư đợc. Manứih S’tiêng nắc dzợ k’noọ, bhiệc xay xơ ahay cắh vêy nặc bhiệc lalay âng zâp pr’loọng đông, nắc râu bhui har, trách nhiệm âng đhanuôr, vel đông. Tu cơnh đâu, zâp bêl váih bhiệc bhan xay xơ, apêê nắc đh’rứah ra’văng jậpd dồ, ch’na đh’nắh, tr’pác bhiệc bhrợ lâng pr’loọng đông, pấh bhiệc bhan liêm ta níh./.
Tục "trả của, đáp lễ” trong đám cưới của người S'Tiêng
Tô Tuấn
Trong các dân tộc anh em cùng sinh sống ở tỉnh Bình Phước thì người STiêng chiếm số đông và có bề dày truyền thống với những phong tục tập quán văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc mình. Trong đó, “Tục trả của, đáp lễ” trong đám cưới là một phong tụ độc đáo của dân tộc S'Tiêng.
Cũng như nhiều dân tộc sinh sống ở vùng Đông Nam Bộ, trai gái dân tộc S'Tiêng thường làm quen, tìm hiểu nhau thông qua các lễ hội, đám cưới bạn bè. Khi đã cảm mến nhau, quyết định đi đến hôn nhân thì đôi trai gái thông báo với gia đình. Nghi thức đầu tiên trong đám cưới của người S'Tiêng là “lễ hỏi”. Trong lễ hỏi, nhà trai cử hai người làm mai mối (gọi là Đhran) sang nhà gái hỏi cưới. Trong đám hỏi, nhà trai, nhà gái, già làng và ông mai cùng thách cưới vợ. Đây là một tục lệ cổ truyền đã có từ lâu đời và đến nay một số nơi vẫn duy trì. Già làng Điểu Đố, dân tộc Stiêng ở tỉnh Bình Phước, cho biết: "Đầu tiên ra mắt “Lễ hỏi” bên nhà trai phải sắm đồ vật theo phong tục tập quán truyền thống của đồng bào. Đồ vật từ nhà trai mang sang nhà gái theo phong tục bao giờ cũng có cái còng bạc(vòng bạc), dây vòng bạc".
Theo già làng Điểu Đố, trước đây, số lễ vật thách cưới mà nhà gái đưa ra thường tương đương với giá trị mà ngày trước cha cô gái phải bỏ ra để cưới mẹ cô gái. Trước mặt già làng, cha cô gái bẻ những cây que đưa cho người làm mai đếm, để biết nhà gái thách cưới bao nhiêu con trâu, bò, heo, bình, vại rượu. Trước mặt mọi người, ông mai trao lại cho cha của chàng trai. Theo tập tục truyền thống nếu nhà trai trả đủ số lễ vật cho nhà gái thì sau ngày cưới, nhà trai được đưa cô dâu về hoặc ra ở riêng, nếu chưa trả được thì chàng trai phải ở rể cho nhà gái đến khi trả hết nợ. Đây là phong tục mà người S'Tiêng ở Bình Phước gọi là “tục trả của, đáp lễ”. Đặc biệt trong các lễ vật không thể thiếu đó là “cây lao”, biểu tượng sức mạnh của người S'Tiêng. Bà Điểu thị Kia dân tộc S'Tiêng ở tỉnh Bình Phước cho biết: "Đây là những lễ vật có ý nghĩa văn hóa gắn kết cộng đồng, trong số các lễ vật phải có cây lao, vật dụng thường có trong các lễ hội của người Siêng, nhất là lễ hội đâm trâu, cho nên trong lễ cưới của người Stiêng cũng phải có lễ vật đó thì việc cưới xin mới tốt đẹp".
Trước đây sau lễ hỏi, hai bên gia đình có thể tổ chức đám cưới cho đôi trai gái sau 1-2 năm, nghĩa là sau lễ ăn hỏi đôi bạn trẻ đã trở thành vợ chồng, nhưng chưa được ăn ở chung. Trong thời gian này, họ vẫn có thể qua lại giúp đỡ nhau làm nương rẫy, chăm sóc nhau khi đau ốm. Thường sau lễ hỏi hai gia đình hai bên sẽ tổ chức đám cưới. Để chuẩn bị cho bữa tiệc cưới thường mổ heo, gà, nhưng bắt buộc phải có một con trâu. Theo truyền thống xưa, trong ngày cưới, nhà trai chuẩn bị một cặp bông tai, một váy thổ cẩm, chuỗi hạt cườm đeo và bộ lục lạc bằng đồng để tặng cho cô dâu…Ngược lại, nhà gái cũng chuẩn bị nhiều tấm thổ cẩm các loại để tặng cho họ hàng thân thích nhà trai để mừng đón xui gia.
Trong ngày cưới, hai bên gia đình tổ chức tiệc mời họ hàng bạn bè thân thích cùng ăn, uống rượu cần, đánh chiêng trống trong không khí rộn ràng vui tươi, mọi người cùng chúc cho cô dâu chú rể hạnh phúc. Bà Điểu Thị Kia cho biết:"Trong lễ cưới mời tất cả mọi người hai dòng họ cùng chung vui trong ngày cưới. Ngoài số thịt được dùng trong bữa tiệc, thì mỗi người được mời dự đám cưới khi ra về được chia một phần nhỏ, thể hiện cộng đồng đoàn kết, một miếng ăn cũng chia đều cho nhau".
Sau khi cưới khoảng một tuần, chàng rể dẫn cô dâu về nhà chồng để báo cho thần bếp, thần nhà biết, chỉ cho cô dâu biết chỗ ăn ngủ ở bên gia đình chồng. Thời điểm cô dâu về nhà chồng cũng là lúc để nhà trai đưa nốt những sính lễ còn thiếu cho bên nhà gái như đã hứa, ngược lại bên nhà gái cũng có phần đáp lễ lại tương đương với số hiện vật mà trai tặng. Để giúp đỡ cho nhà trai, thì anh em họ hàng thân thiết có thể giúp đỡ bằng cách tặng những đồ vật sính lễ mà nhà trai còn thiếu.
Ngày nay những thủ tục cưới xin của trai gái S'Tiêng đã được thực hiện theo nếp sống mới, đơn giản vui tươi. Tục "Trả của, đáp lễ” hầu như không còn, tuy nhiên một số nét văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ. Người S'Tiêng vẫn quan niệm, việc cưới xưa không phải là việc riêng của từng gia đình, mà cũng là niềm vui và trách nhiệm của cộng đồng, buôn, sóc. Vì vậy, mỗi khi có đám cưới họ cùng nhau chuẩn bị lễ vật, thức ăn, chia sẻ công việc với gia chủ và say sưa tham dự lễ../.
Viết bình luận