Ặt cóh vel Yên Thọ, chr’val Tân Hóa, chr’hoong Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, t’coóh Trương Xuân Đô ta luôn bơơn ma nứih cóh vel lêy chắp. K’noọ 70 c’moo, t’coóh công dzợ vêy tr’pang dzung bhréh k’rơ. T’cooh Đô k’đơơng a zi moọt ooy bha lang crâng bhlăng đanh c’moo. T’coóh moon nắc đoo cr’van chr’nắp âng vel bhươl. Crâng Bhlăng chặt váih cóh đhăm bhứah 17 hécta. G’lúh đhi a muốt số 10 c’moo 2017 lướt z’lấh chr’val Tân Hóa bhrợ ha đêếh muy bơr pêê bhr’lâng bhlăng ga mắc. Lêy bha lâng bhlăng r’dợ ha uh, t’coóh Đô ca ay loom chơớ hơơ: “Acu zư lêy crâng bhlăng đoọng ha Nhà nước, cắh vêy đoọng pa câl. A cu zư x’mir lêy crâng bhlăng, lêy a đoo liêm t’viêng, doó bil bal nắc xơợng loom luônh hâng hơnh bhlâng”.

T’coóh Đô k’dâng zr’lụ crâng vêy lấh 100 bha lâng bhlăng vêy đanh lấh 30 c’moo, muy bha lâng vêy ga mắc tơợ m’pâng mét tước 1 mét. Vêy bơr bha lâng bhlăng bơơn ga ving zư lêy tơợ c’moo 1966, bơr pêê cha nắc ga vặt cắh bhlúch. Lấh bhlăng, zr’lụ crâng dzợ vêy zấp râu tơơm n’loong vêy chr’nắp cơnh Dổi, Táu, Bội…
Bêl tơới, Trương Xuân Đô buôn lướt cóh crâng bhlăng đoọng bơơn pay ha la z’nươu chô pa dứah cr’ay. Zêl prúh a rập Mỹ, bhuông păr p’tộ bom hưl đhăl, t’coóh Đô pa choom đoọng bộ đội xó moọt đhộ ooy crâng bhlăng g’đách p’lơớp. Nâu câi, bêl đha nuôr vel lâng đha nuôr cóh xuôi tước chơớc crâng bhlăng, lum t’coóh Đô t’moóh câl n’loong. Apêê đoo bơơn đớp đợ râu t’ngâr a cọ. Muy bơr cha nắc nhool ta dzíc đơơng máy cưa moọt ooy crâng tông cưa n’loong. T’coóh Đô bơ ơn năl nắc đơớh ta dzíc đơơng a chị ta pun, t’bhlâng cha groong. C’bhúh “mốp lệt” pa hêl moon pa cal đoọng ha pêê đoo 5 bha lâng bhlăng nắc toọt lang t’coóh Đô doó dzợ k’rang tước zên bạc râu rí. Apêê laach moon, ha dang cắh pa câl nắc đhr’nông đong cha pợ plăng nag pr’loọng đông t’coóh vêy dưr roóh. Bêl bơr n’đắh tr’lin nắc 8 cha nắc ca coon n’jứih âng t’coóh Đô loon đơớh tước zooi, zêl prúh c’bhúh “ pa hư crâng”.

T’coóh Đô hay cớ, c’moo a hay, vêy c’bhúh ma nứih cóh Bắc zước moọt ooy crâng chơớc lêy tơơm a lọ đoọng bhrợ z’nươu. Xang n’nắc, apêê đoo loóch t’nil mơ đhị apêê bha lâng bhlăng ga mắc. apêê p’lơớp đớc cưa k’tứi, cưa máy lâng a chị cóh bao, đương bêl tước ha dum vêy col bhlăng. Xơơng cóh loom cơnh ca oon u vêy, t’coóh Trương Xuân Đô k’đhơợng đèn pin moọt ooy crâng: “Bấc bêl apêê đoo lướt ooy crâng col n’loong, apêê n’loong bhlăng k’tứi, a cu ta mêệng xơợng xang n’nắc xó ooy crâng cha groong apêê đoo cắh choom col pa hư. Nâu câi apêê đoo đươi dua máy tu cơnh đêếc bh’rợ zư lêy crâng bh’nhăn k’đháp”.
Muy c’la t’coóh Đô cắh vêy u buôn zư lêy crâng bhlăng chr’nắp k’tỷ đồng. T’coóh dh’rứah lâng 8 p’nong ca coon n’jứih, 3 p’nong ca coon n’đil âi pay k’díc lâng ặt ma mông đhị crâng bhlăng doó lấh ch’ngai. Bêl crâng vêy đơơr đh’riêng n’nâu cắh cậ dưr váih ma nứih chríh moon, t’coóh Đô t’đang apêê ca coon chơớc lêy plăm pruh. Đhị đâu cắh mơ đanh, bêl t’coóh Đô chô n’đắh lướt chợ lêy bêệ ô tô pa đhêy đhị đong. Apêê ma nứih chríh đơơng ch’nêếh, dầu cha, a doóh ngăn moọt đoọng ha t’coóh. Năl loom pr’chắp âng c’bhúh pa câl n’loong, laach moon cắh choom nắc moọt pa hêl lâng pr’hêl, t’coóh Đô n’đhơ đhơ cơnh công cắh đớp, xang nắc moon pa liêm đoọng apêê đoo dưrr chô.
A noo Trương Xuân Dưng, 23 c’moo, ca coon n’jứih t’lách âng t’coóh Đô đoọng năl, bh’rợ zấp t’ngay âng 2 coon conh nắc guy đơơng ch’na dh’nắh, z’nươu tr’hâu moọt ooy crâng bhlăng. Apêê đoo pa bhrợ toọng t’ngay ha dum. Cơnh lâng a noo Hưng, bh’rợ príh doóh n’loong n’cuông, zư x’mir lêy âng tơơm bhlăng dzợ k’tứi nắc râu bhui har zấp t’ngay: “Crâng bhlăng cơnh lâng pr’loọng đong đay, crâng bhlăng pa bhlâng chr’nắp. a đay zư x’mỉ rlêy a đoo cơnh nắc zr’lụ nang chrnóh âng đong đay. Lêy bha lang crâng bhlăng dưr pậ ting t’ngay, c’la cu bhui har bhlâng. Zấp t’ngay a cu lâng a ma buôn moọt ooy crâng zư lêy, cha groong râu col pa hư âng c’bhúh t’toong p’pay”.
C’moo 1993, chính quyền vel đong nắc âi pa đớp đoọng bh’rợ zư lêy bha lang crâng bhlăng ha t’coóh Đô. Pr’loọng đong t’coóh Đoo vêy quyền đươi dua râu liêm crêê tơợ crâng. Đươi vêy zay bhrợ têng, p’zay bơơn bhrợ c’bhúh c’rêê, tơơm z’nươu chr’pắh cóh crâng nắc pr’ặt tr’mông pr’loọng đong t’coóh Đoo p’xoọng ca bhố ngăn. T’coóh Phạm Thanh Xuân, Tổ trưởng Tổ Kiểm lâm cơ động, Hạt Kiểm lâm chr’hoong Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đoọng năl, cóh vel đong nắc đhêêng dzợ đhr’doóc crâng bhlăng âng t’coóh Đô k’đhơợng lêy. Nâu đoo nức râu n’loong chr’nắp pr’hắt, vêy chr’nắp dal tu cơnh đêếc c’bhúh pa câl n’loong zấp đhị tước chơớc t’bơơn pay. T’coóh Phạm Thanh Xuân đoọng năl, t’coóh Trương Xuân Đô nắc muy cha nắc liêm ta níh đhị bh’rợ zư lêy crâng: “Xơợng bhrợ bh’rợ zư lêy crâng, pa bhlâng nắc crâng bhlăng nắc cơnh t’coóh Đô nắc muy cha nắc liêm ta níh choom zấp pr’loọng đong n’lơơng ma ting lêy. T’coóh Đô zư lêy crâng âi đanh, bh’rợ zư lêy crâng pa bhlâng liêm đh’rứah lâng râu zooi đoọng tơợ n’đắh c’bhúh kiểm lâm vel đong. Zư lêy crâng công nắc zư lêy môi trường ma mông âng đay”./.
Quảng Bình: Lão nông bảo vệ rừng lim cổ thụ trị giá bạc tỷ
Thanh Tuấn/VOV Miền Trung
Hơn 40 năm qua, ông Trương Xuân Đô, 68 tuổi, ở thôn Yên Thọ, xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cần mẫn bảo vệ rừng lim cổ thụ. Dù bị “lâm tặc” hăm dọa, tìm cách mua chuộc, ông Đô vẫn quyết tâm giữ rừng. Với ông Đô, rừng lim là tài sản quý hiếm của bản làng.
Ở thôn Yên Thọ, xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, ông Trương Xuân Đô luôn được người trong làng quý trọng. Gần 70 tuổi, ông vẫn giữ được đôi chân nhanh nhẹn. Ông Đô dẫn chúng tôi vào cánh rừng lim cổ thụ. Ông gọi đó là báu vật của làng. Rừng lim trải dài trên diện tích 17 hécta. Cơn bão số 10 năm 2017 quét qua “rốn lũ” xã Tân Hóa làm gãy một vài cây lim to. Nhìn gốc lim dần mục nát, ông Đô đau xót: “Mình bảo vệ rừng lim cho Nhà nước, chứ không phải để bán đi. Mình chăm rừng lim, thấy nó xanh mướt, nguyên vẹn thì cảm giác rất mừng, vui”.
Ông Đô ước tính khu rừng có hơn 100 cây lim tuổi đời trên 30 năm, mỗi cây có đường kính từ nửa mét đến 1 mét. Có hai cây lim được khoanh nuôi, bảo vệ từ năm 1966, vài người ôm không xuể. Ngoài lim, khu rừng còn có các loại cây có giá trị như Dổi, Táu, Bội…
Thuở nhỏ, Trương Xuân Đô thường đi dưới tán rừng lim để hái lá thuốc, cây dược liệu về nhà chữa bệnh. Kháng chiến chống Mỹ, máy bay ném bom dữ dội, ông Đô hướng dẫn bộ đội chạy sâu vào rừng lim cổ thụ trú ẩn. Bây giờ, khi dân bản và người dưới xuôi tìm đến rừng lim, gặp ông Đô hỏi mua gỗ. Họ nhận được những cái lắc đầu. Một số đối tượng liều lĩnh xách máy cưa vào rừng trộm gỗ. Ông Đô biết được liền xách cây rựa chạy theo, quyết liệt can ngăn. Nhóm “lâm tặc” gợi ý bán cho chúng chừng 5 cây lim thì cả đời ông Đô không phải lo chuyện tiền bạc. Chúng hù dọa, nếu không bán thì căn nhà lợp mái tranh của gia đình ông sẽ bốc cháy. Khi hai bên giằng co thì 8 người con trai ông Đô kịp thời đến hỗ trợ, đẩy đuổi nhóm “lâm tặc”.
Ông Đô nhớ lại, năm ngoái, có nhóm người ngoài Bắc xin vào rừng tìm cây cỏ máu để làm thuốc. Sau đó, họ âm thầm đánh dấu vị trị các cây lim lớn. Họ cất giấu cưa tay, cưa máy và rựa trong bao bố, đợi khi đêm xuống sẽ đốn hạ lim. Linh tính có chuyện chẳng lành, ông Trương Xuân Đô cầm đèn pin chạy thẳng vào rừng: “Nhiều khi người ta đi rừng họ chặt gỗ, các cây lim con, mình lắng tai nghe ngóng rồi chạy ùa vào rừng bảo người ta không được chặt phá. Bữa nay người ta dùng cưa máy nên nên việc bảo vệ rừng càng khó khăn”.
Một mình ông Đô không dễ bảo vệ rừng lim quý trị giá bạc tỷ. Ông cùng 8 người con trai, 3 người con gái đã lập gia đình và sinh sống cách rừng lim không xa. Khi rừng có động tĩnh hay sự xuất hiện của người lạ đột nhập, ông Đô gọi các con tìm cách đẩy đuổi. Cách đây không lâu, khi ông Đô đi chợ về thấy chiếc ôtô đỗ trước cửa nhà. Các đối tượng lạ mang gạo, dầu ăn, áo ấm vào tặng cho ông. Biết thủ đoạn của bọn buôn gỗ, hăm dọa không được thì mua chuộc bằng vật chất, ông Đô kiên quyết trả lại hàng, lựa lời mời bọn chúng ra khỏi nhà.
Anh Trương Xuân Hưng, 23 tuổi, con trai út ông Đô cho biết, công việc hàng ngày 2 của cha con là gùi thực phẩm, thuốc men vào rừng lim. Họ làm việc hăng say cả ngày trong rừng. Đối với anh Hưng, việc dọn dẹp cây cối, chăm sóc những cây lim chưa trưởng thành là niềm vui hàng ngày: “Rừng lim đối với gia đình mình, rừng lim rất quan trọng. Mình chăm sóc nó như khu vườn trong nhà. Thấy cảnh rừng lim lớn lên từng ngày, bản thân mình rất vui. Hàng ngày mình cùng với cha thường xuyên vào rừng bảo vệ, tránh sự chặt phá của bọn trộm cắp”.
Năm 1993, chính quyền địa phương chính thức giao khoán việc bảo vệ cánh rừng lim cho ông Đô. Gia đình ông Đô có quyền hưởng lợi từ rừng. Nhờ cần cù, chịu khó khai thác các loài mây tre, cây dược liệu quý trong rừng mà đời sống gia đình ông Đô thêm no ấm. Ông Phạm Thanh Xuân, Tổ trưởng Tổ Kiểm lâm cơ động, Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cho biết, trên địa bàn chỉ còn sót lại rừng lim của ông Đô quản lý. Đây là loại gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao nên “đầu nậu” gỗ khắp nơi tìm cách săn lùng. Ông Phạm Thanh Xuân cho biết, ông Trương Xuân Đô là tấm gương điển hình về bảo vệ rừng: “Thực hiện công tác bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng lim thì trường hợp như ông Đô là một gương sáng cần nhân rộng đến các hộ gia đình khác. Ông Đô bảo vệ rừng đã lâu, công tác bảo vệ quá tốt cùng với sự hỗ trợ từ phía lực lượng kiểm lâm địa bàn. Bảo vệ rừng cũng là bảo vệ môi trường sống của mình”./.
Viết bình luận