A chông- ha roo, cr’noọ bh’rợ liêm choom lâng đhr’năng tr’xăl âng pleng k’tiếc: Nắc lêy vêy c’lâng bh’rợ pa dưr dal râu nhâm mâng lâng bhrợ têng ta bhứah vêy bh’nơơn
Thứ tư, 00:00, 10/08/2016

 

        Cóh đhr’năng pleng k’tiếc tr’xăl dưr váih ting ngân lấh mơ, đhr’năng đác k’rịa moọt đhậu, pa bhlầng nắc moọt hân noo ch’noọng, bhrợ k’đháp đoọng ha bấc t’nơơm chr’nóh bh’năn băn, ha dợ cr’noọ bh’rợ a chông- ha roo xoọc bơơn lêy nắc c’lâng bhrợ têng đanh mâng. Chr’nắp bhlầng, cr’noọ bh’rợ bhrợ têng ting cơnh c’lâng kiêr, tr’zúp tr’zooi đh’rứah bhlưa a chông lâng t’nơơm ha roo đoọng chóh bhrợ liêm choom cóh đhr’năng pleng k’tiếc tr’xăl, doó lấh váih râu cắh liêm crêê tước môi trường đăn đếêc, liêm choom lâng c’rơ bhrợ têng âng bấc pr’loọng đong đhanuôr cóh zr’lụ truíh biển. Xay moon âng phóng viên Thạch Hồng, ắt đhị zr’lụ ĐBSCL:

          A noo Nguyễn Công Danh, ắt đhị chr’val Vĩnh Lộc, chr’hoong Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu đoọng năl, hân noo nắc ky, tu đhr’năng El nino, pleng p’răng pứih lâng ch’noọng xớơt đanh đươnh, tu cắh pa ghít tu đác k’ruung nắc bh’nơơn ha roo xiêr bấc. Ha dợ, a chông nắc vêy âng chô bh’nơơn liêm dal bơơn tợơ 30-40% đươi vêy đác k’rịa, a noo âng chô 50 ức/ha.

        Tu pleng k’tiếc p’răng pứih, đác k’rịa moọt đanh đươnh, kiêng pa dưr dal bh’nơơn bhrợ têng nắc lêy oó băn lalấh bấc a chông, lâng oó lơi ha roo, tu vêy chóh ha roo nắc vêy tệêm ngăn môi trường sạch đoọng băn a chông. Kiêng bhrợ têng a chông ha roo đanh mâng, m’pâng c’xêê 7,8 dương lịch nắc pa hooi đác k’rịa đoọng chóh ha roo pa zưm lâng đh’rứah băn a chông càng t’viêng đoọng pa dưr dal bh’nơơn.

        Cóh đhr’năng lalua đoọng lêy, tợơ lấh bêl băn a chông, đhr’năng k’tiếc bhrợ têng ting liêm lấh mơ, t’nơơm ha roo ha dưr liêm, xiêr zên bạc k’rong bhrợ têng. Tợơ lấh zập hân noo a chông, chất mùn hữu cơ, vi sinh vật lâng bh’năn xưa âng a chông nắc râu liêm choom bhlầng đoọng ha t’nơơm ha roo. Ha dợ đhị đhăm ơy chóh ha roo, ha dang băn a chông nắc a chông đấh dưr pậ, doó lấh váih pr’lúh cr’ay… nắc đươi vêy t’nơơm ha roo pa liêm môi trường, pa xiêr râu cắh liêm đoọng ha chông.

        T’coóh Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu đoọng năl, hân noo 2015-2016, tỉnh vêy k’nặ 27 r’bhầu hecta bơơn bhrợ têng mô hình ha roo a chông k’rong đhị apêê chr’hoong Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Thị xã Gía Rai. Crêê râu cắh liêm âng g’lúh p’răng pứih, đác k’rịa moọt t’mêê đâu a hay cung nắc k’nặ 10 r’bhầu hecta bil bal. T’coóh Lân đoọng năl, ting cơnh c’lâng bh’rợ, t’hước tước c’moo 2020 -2030, Bạc Liêu nắc pa dzoóc đhăm băn a chông- ha roo tợơ 30 r’bhầu hecta dzoóc 45 r’bhầu hecta. Tu cơnh đếêc, đoọng cr’noọ bh’rợ ha dưr đanh mâng cóh đhr’năng pleng k’tiếc tr’xăl, pleng k’tiếc cắh liêm, muy cóh pazêng bh’rợ liêm choom bhlầng nắc bhrợ têng zr’lụ quy hoạch bhrợ têng ha roo a chông ghít liêm, k’rong bhrợ têng hạ tầng, bh’nậ đác đoọng pa hooi đác k’rịa, t’moọt đác k’ruung đấh loon lâng liêm choom:

        Đọong bơơn cơnh đếêc nắc rơơm đương âng chính quyền nắc bơơn vêy pr’đợơ liêm choom đoọng bhrợ têng hệ thống, cơ sở hạ tầng, đoọng zập đác đươi dua cóh pr’đợơ băn a chông tệêm ngăn zập đác k’rịa bh’nơơn liêm choom. Đh’rứah lâng đếêc, nắc lêy ch’mệêt đác k’rịa lâng nắc vêy đác k’ruung lâng bhrợ têng liêm bhiệc k’rong đác boo đhị đếêc. Bạc Liêu nắc tỉnh x’rịa ângâng ĐBSCL cắh vêy râu lơơng lấh mơ đác k’ruung, nắc đươi dua lứch pr’đợơlliêm choom nắc đoo, k’rong đác boo zập c’moo 1.800mm pa xoọng lâng tự pa hooi, đươi dua tợơ k’ruung Hậu đoọng a hêê choom bhrợ pa dưr liêm cr’noọ bh’rợ nâu cóh ha y.

        Đhơ cơnh đếêc, ting cơnh ngành nông nghiệp apêê tỉnh lâng đhanuôr trực tiếp bhrợ têng nắc cung lưm bấc râu k’đháp k’ra. Nắc cóh cr’chăl c’moo tợơp xăl bhrợ, pazêng đhăm bhrợ têng ha roo cắh vêy âng chô bh’nơơn đoọng băn a chông, bh’nơơn a chông lâng ha roo zăng tệêm ngăn. Đhơ cơnh đếêc, pazêng c’moo t’tun đếêc cr’noọ bh’rợ lưm bấc râu k’đháp k’ra, bh’nơơn ếp, bấc râu pr’lúh cóh a chông dưr váih lâng bha ruy pa hư t’nơơm ha roo cung dưr váih ta luôn. Dưr váih đhr’năng nâu nắc tu đhr’năng bhrợ têng a chông – ha roo cắh ơy đươi dua cơnh liêm choom lâng râu crêê tước âng pleng k’tiếc tr’xăl; cắh ơy bhrợ têng liêm đăh kỹ thuật đoọng pa dưr dal bh’nơơn cóh muy đhăm k’tiếc bhrợ têng; k’tiếc bhrợ têng nắc dzợ đác k’rịa bấc lấh; bh’nơơn băn a chông bấc lấh chóh ha roo tu cơnh đếêc nắc đhanuôr lơi chóh ha roo đoọng băn a chông, bhrợ cắh liêm ma mơ sinh thái cóh zr’lụ k’tiếc a chông- ha roo; cắh ơy k’rang tước m’ma bh’nơơn lâng p’lóh băn a chông bấc chu cóh muy hân noo.

        Ting cơnh số liệu tợơ Sở NN&PTNT apêê tỉnh vêy đhăm chóh ha roo cóh đhăm băn a chông, c’moo 2015 mơ 160.000ha dzoóc mơ 20.000ha t’ping lâng c’moo 2010, k’rong bấc bhlầng nắc đhị apêê tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bến Tre… Ting đếêc, lâng pr’đợơ cung cơnh râu liêm buôn ha dưr hệ thống bhrợ têng ha roo a chông cóh prang zr’lụ dzợ bấc, quy mô bhrợ têng choom bơơn tước 200.000ha.

        Tiến sĩ Trần Văn Khởi, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đoọng năl, đoọng xay bhrợ crêê pr’đợơ, râu liêm choom, t’hước tước râu ha dưr đanh mâng âng cr’noọ bh’rợ a chông- ha roo, bhiệc k’rang bhlầng nắc quy hoạch, c’lâng ha dưr, pa liêm kỹ thuật bhrợ têng đoọng ha zập zr’lụ, zập tỉnh, pa chắp lêy lâng đơơng m’ma ha roo mặ zâng lâng k’rịa, t’bhlầng k’rong bhrợ têng, pa dưr hệ thống c’lâng đác đoọng ha zập zr’lụ clung lâng ha y nắc bhrợ pa dưr zr’lụ nguyên liệu ha roo, a chông ting c’lâng Gap đoong pa dzoóc chr’nắp, bh’nơơn đoọng ha đhanuôr.

        Bơr pêê c’lâng bh’rợ âng a hêê t’mêê pa glúh cung nắc bơr pêê râu a hêê cắh ơy pa dưr lứch pr’đợơ liêm choom xoọc đâu. A cu moon bh’rợ nâu cơnh pa choom đhanuôr đắh quy hoạch zr’lụ cắh ơy liêm, tu cơnh đếêc nắc apêê pr’zợc đoọng lêy vêy pazêng zr’lụ nắc đhanuôr dzợ tự băn a chông, lêy bh’nơơn nắc cắh chóh ha roo dzợ, băn  zêng a chông đhị muy c’moo nắc lưm râu cắh pr’đoọng. Râu bơr dzợ nắc cung cắh liêm choom ty a hêê lêy chớih pay c’lâng bhrợ têng liêm choom t’mêê, cơnh m’ma ha roo nắc mặ zâng lâng đác k’rịa, cr’chăl dưr pậ liêm choom đhị hân noo  boo, vêy zập đác k’ruung, xang nắc tước kỹ thuật, chóh băn..

        Apêê bh’rợ pa chắp lêy lâng đhr’năng lalua bhrợ têng đoọng lêy, cr’noọ bh’rợ a chông  ha roo nắc muy hệ thống bhrợ têng t’mêê liêm choom lâng pr’đợơ bhrợ têng âng zr’lụ truíh biển lâng âng chr’nắp đanh mâng cóh bhiệc bhrợ têng tài nguyên thiên nhiên: k’tiếc, đác, muy cr’noọ bh’rợ âng chr’nắp đanh mâng lâng vêy bh’nơơn kinh tế cóh đhr’năng pleng k’tiếc tr’xăl xoọc đâu./.

 

 

Tôm – Lúa, mô hình thích ứng BĐKH: Cần giải pháp nâng cao tính bền vững và nhân rộng hiệu quả

 

          Trong điều kiện biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng nghiêm trọng, tình hình nước mặn xâm nhập sâu, nhất là vào mùa khô, gây khó khăn cho nhiều cây trồng vật nuôi thì mô hình luân canh tôm - lúa đang được xem là hướng đi cho sản xuất bền vững. Đặc biệt, mô hình sản xuất theo hình thức khép kín, có tính hỗ trợ lẫn nhau giữa tôm và cây lúa giúp canh tác phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu, ít tác động tiêu cực tới môi trường xung quanh, phù hợp với khả năng sản xuất của đa số các hộ nông dân trong vùng ven biển. Phản ánh của phóng viên Thạch Hồng, thường trú khu vực ĐBSCL:

Anh Nguyễn Công Danh, ở xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu cho biết, vụ rồi do hiện tượng El nino, nắng nóng và hạn hán kéo dài, vì không chủ động được nguồn nước ngọt nên lúa giảm năng suất gần phân nửa. Nhưng ngược lại, con tôm lại cho năng suất đạt hơn từ 30-40% nhờ điều tiết tốt độ mặn, anh thu về 50 triệu/ha: 

Băng : Do thời tiết nắng nóng, độ mặn xâm nhập kéo dài, muốn nâng cao hiệu quả sản xuất thì mình đừng có mê nuôi tôm quá, rồi cũng không bỏ lúa, vì có làm lúa thì mới đảm bảo môi trường sạch cho nuôi tôm. Muốn sản xuất tôm lúa bền vững, trung tuần khoảng 7, 8 dương lịch thì mình tháo rửa mặn để sản xuất lúa kết hợp nuôi xen tôm càng xanh để tăng thêm thu nhập, lợi nhuận trên cùng một diện tích.

         Thực tế cho thấy, sau khi nuôi tôm, tình trạng đất sản xuất trở nên màu mỡ hơn, cây lúa phát triển mạnh, giảm được chi phí vật tư nông nghiệp. Sau mỗi vụ tôm, chất mùn hữu cơ, vi sinh vật và thức ăn dư thừa của con tôm là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho cây lúa. Ngược lại, đất được canh tác qua mỗi vụ lúa thì thả tôm mau lớn, ít gặp rủi ro về dịch bệnh hơn nhiều so với ao thả nuôi nối vụ thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, quảng canh kết hợp... đó là nhờ cây lúa điều hòa được môi trường, giảm tác nhân gây hại cho con tôm.

Ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu cho biết, niện vụ 2015 - 2016, tỉnh có gần 27 nghìn ha được thực hiện mô hình lúa tôm tập trung ở các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Thị xã Giá Rai. Ảnh hưởng của đợt nắng nóng, mặn xâm nhập vừa qua cũng là gần 10 nghìn ha bị thiệt hại. Ông Lân cho biết thêm, theo kế hoạch, định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Bạc Liêu sẽ đưa diện tích nuôi tôm – lúa từ 30 nghìn ha lên 45 nghìn ha. Do vậy, để mô hình phát triển ổn định trong điều kiện biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, một trong nhiệm vụ tối ưu là xây dựng quy hoạch vùng sản xuất lúa tôm một cách cụ thể, đầu tư hạ tầng, thủy lợi phục vụ điều tiết nước mặn, ngọt kịp thời và hợp lý: 

Băng : Để đạt được cái này thì không phải kỳ vọng của chính quyền là được mà phải cần có nguồn lực để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, để đáp ứng điều kiện cấp nước trong điều kiện nuôi tôm đảm bảo điều kiện nước mặn đảm bảo chất lượng. Song song đó phải kiểm soát được mặn và tiếp được ngọt và khai thác triệt để nguồn nước mưa tại chỗ. Phải nói rằng, Bạc Liêu là tỉnh cuối nguồn của ĐBSCL không có gì hơn ngoài nước ngọt là tận dụng tối đa tài nguyên lượng mưa hàng năm là 1.800mm cộng phần tự điều tiết, tận dụng cuối nguồn sông Hậu để chúng ta có thể phát triển tốt mô hình này trong thời gian tương lai.

Tuy nhiên theo ngành nông nghiệp các tỉnh và nông dân trực tiếp thực hiện mô hình cũng xuất hiện ra một số khó khăn, bất cập. Đó là trong vài năm đầu chuyển đổi, những diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm, năng suất tôm và lúa tương đối ổn định. Tuy nhiên, những năm tiếp theo mô hình gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả, nhiều dịch bệnh trên tôm xảy ra liên tục trên diện rộng và sâu hại trên cây lúa cũng xảy ra thường xuyên. Nguyên nhân là do hệ thống công trình canh tác tôm – lúa, những giải pháp kỹ thuật áp dụng chưa phù hợp với sự tác động của biến đổi khí hậu; chưa có đột phát trong cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích; đất canh tác lúa có xu hướng nhiễm mặn cao hơn; giá trị thu nhập từ nuôi tôm cao hơn nhiều so với trồng lúa nên dần dần người dân “quên” trồng lúa và thả tôm nuôi nhiều lần trong vụ nên mất cân bằng sinh thái trên vùng đất tôm - lúa; chưa quan tâm tới nguồn con giống chất lượng và  thả tôm nhiều đợt/vụ.

Theo số liệu từ Sở NN & PTNT các tỉnh có diện tích canh tác lúa trên nền nuôi tôm, năm 2015 ước khoảng 160.000 ha tăng khoảng 20.000 ha so năm 2010, tập trung nhiều tại các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bến Tre…  Theo đó, với tiềm năng và lợi thế phát triển hệ thống canh tác lúa tôm trong toàn vùng còn rất lớn, quy mô sản xuất có thể đạt đến 200.000 ha.

Tiến sĩ Trần Văn Khởi, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, để khai thác đúng lợi thế , tiềm năng, hướng tới sự phát triển bền vững của mô hình luân canh tôm – lúa, vấn đề cần phải được quan tâm đó là về quy hoạch, định hướng phát triển, hoàn chỉnh kỹ thuật canh tác cho từng vùng, từng tỉnh, nghiên cứu và cung ứng các giống lúa có thể chống chịu được mặn, tăng cường đầu tư, nâng cấp hệ thống thủy lợi nhỏ cho từng cánh đồng và hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa, tôm theo hướng GAP để tăng giá trị, lợi nhuận cho nông dân. 

Băng : Một số giải pháp mà chúng tôi vừa đưa ra cũng đồng thời là một số mà chúng ta chưa phát huy hết hiện nay. Tôi nói vấn đề như hướng dẫn nông dân về quy hoạch vùng chưa được tốt cho nên các bạn thấy có những vùng là nông dân vẫn còn tự phát nuôi tôm, thấy hiệu quả thì cắt luôn vụ lúa để nuôi tôm liên tục trong một năm thì nó sẽ rủi ro. Cái thứ hai nữa đó là nó cũng bị hạn chế bởi chúng ta còn phải lựa chọn những tiến bộ kỹ thuật mới, như là giống lúa thì phải có tính chống chịu phù hợp vớ vùng có độ mặn tương đối cao, thời gian sinh trưởng nằm trong thời gian phù hợp với mùa mưa, có nước ngọt, rồi vấn đề về kỹ thuật, nuôi trồng.

Các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất cho thấy mô hình tôm lúa  là một hệ thống canh tác mới thích hợp với điều kiện canh tác của khu vực ven biển và mang tính bền vững trong khai thác tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, một mô hình mang tính bền vững và có hiệu quả kinh tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu h iện nay/.

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC