Boóp p’rá acoon cóh đhị đhr’năng dưr bil
Thứ sáu, 00:00, 13/01/2017
Boóp p’rá nắc muy rau chr’nắp pa bhlâng, bhrợ t’váih rau chr’nắp pr’hay ooy văn hoá truyền thống âng muy acoon cóh. Đh’rứah lâng n’nắc lâng bh’rợ pa choom boóp p’rá, chữ xrặ phổ thông nắc ta đang moon đhanuôr acoon prá xay choom boóp p’rá, chữ xrặ âng acoon cóh đay.

              Cóh pazêng 6.700 boóp p’rá xoọc vêy ta đươi cóh prang bha lang k’tiếc, nắc k’nặ 4 r’bhâu boóp p’rá vêy ta pa choom đoọng ha lang t’tun. Tu cơnh đêếc, bấc boóp p’rá lấh ta ha vil lâng boóp p’rá âng đhanuôr acoon cóh Việt Nam công ắt cóh đhr’năng n’nắc. Rau bil bal n’nâu ting t’ngay nắc u váih k’rơ lấh mơ đhị đhr’năng ting ắt đh’rứah cóh bha lang k’tiếc cơnh xoọc đâu, ha dang ahêê cắh vêy bh’rợ crêê cơnh đoọng zư lêy. Xay truíh ooy đhr’năng n’nâu, phóng viên Phương Thuý vêy bha ar xrặ: Boóp p’rá acoon cóh đhị đhr’năng dưr bil

                 A noon Thạch Đà Ni, chi hội văn học nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu xay moon muy rau la lua: Cắh muy cóh Bạc Liêu nắc cóh bấc tỉnh miền Tây Nam Bộ, bêl apêê ta đhâm c’mor bhrợ bh’rợ xrặ n’niên c’moo 70, 80 vêy bấc rau liêm choom bơơn học tập lâng tr’lum giao lưu nắc bh’rợ đươi p’rá phổ thông cóh bh’rợ xrặ bhrợ âng đay bấc lấh mơ lâng liêm choom lấh mơ lâng bh’rợ âng acoon cóh đay. Hân đhơ xoọc đâu cóh miền Tây Nam Bộ, đợ manuýh xrặ vặ học nghệ thuật nắc dợ xrặ đh’rứah bơr rau p’rá nắc p’rá phổ thông lâng p’rá acoon cóh đay, ha dợ bh’rợ xrặ bhrợ văn học âng acoon cóh m’bứih lấh mơ, nắc ắt đhị đhr’năng pr’loọng đong cắh cậ sinh hoạt cóh bhươl cr’noon a năm. Rau đêếc nắc bhrợ bấc rau cắh liêm crêê cóh ha y chroo:

              Tơợ rau cắh n’năl nắc apêê đoo cắh tộ ch’mêết lêy ghít ooy văn học nghệ thuật cắh cậ văn hoá âng đhanuôr đay. Tu văn hoá âng zập đhanuôr acoon cóh nắc ng’năl bêl ng’lêy đọc lâng boóp p’rá âng acoon cóh n’nắc. Apêê n’năl xrặ ha nắc cắh n’năl chữ lâng công vêy muy bơr cha nắc n’năl chữ nắc cắh choom xrặ. Công vêy đợ apêê ta đhâm c’mor n’niên apêê c’moo 70, 80 nắc n’năl chữ Khme, n’năl chữ acoon cóh đay, pa chắp ch’mêết lêy ghít ooy văn hoá nắc cắh choom xrặ bhrợ lâng chữ Việt, tu cơnh đêếc, tác phẩm n’nắc cắh choom lướt glúh ooy n’lơơng, nắc đhiệp ắt cóh zr’lụ cắh cậ cóh pr’loọng apêê đoo a năm.

             Boóp p’rá âng đhanuôr acoon cóh cắh muy ta bhúch lâng bh’rợ pa choom p’rá phổ thông ting n’nắc nắc dợ ta xăl cóh bh’rợ tr’lai lâng boóp p’rá âng acoon cóh n’lơơng. Cắh cậ ng’moon cơnh lơơng, nắc đoo nắc bh’rợ lướt mót âng boóp p’rá âng bấc acoon cóh ooy boóp p’rá âng đhanuôr acoon cóh m’bứi manuýh. Cơnh đhanuôr Ơ Đu ắt cóh Tương Dương, Nghệ An xoọc đâu prá xay p’rá Thái, p’rá Khơ Mú bhrợ boóp p’rá xa nay bha lâng cóh bh’rợ prá xay, tơợ đêếc bhrợ ha j’niêng cr’bưn công tr’xăl cơnh j’niêng cr’bưn âng manuýh Thái, cắh cậ Khơ Mú. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trí Dõi, Giám đốc Trung tâm pa chắp ch’mêết lêy pa dưr pazêng đhanuôr acoon cóh lâng da ding k’coong, Trường Đại học Khoa học Xã hội lâng Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội xay moon: Cóh 53 acoon cóh đhị Việt Nam xoọc đâu nắc manuýh Ơ Đu nắc bil lứch boóp p’rá. Rau bil tíc âng boóp p’rá âng muy bơr đhanuôr acoon cóh nắc muy rau bh’rợ cắh mặ ng’zâl:

              Bi bi cơnh xoọc đâu, ha dang pa choom boóp p’rá đoọng ha manuýh Rục nắc apêê đoo choom prá xay cóh bhúh apêê đoo. Ha dợ bêl ahêê pa choom apêê đoo p’rá Việt, đoọng apêê đoo dưr ma mơ mr’cơnh lâng manuýh Việt bêl chô ooy vel đong nắc apêê đoo vêy cr’noọ cắh dợ lấh prá p’rá âng acoon cóh đay. Cóh muy đhanuôr acoon cóh m’bứi, ắt lâng muy đhanuôr acoon m’bấc, ba bi nắc cơnh manuýh Ơ Đu ắt đăn lâng đhanuôr Thái nắc đoo bêl t’coóh ta ha apêê đoo nắc ha dợ k’noọ nắc ng’zư boóp p’rá Ơ Đu, bêl dợ p’niên nắc apêê đoo dợ prá p’rá Thái – prá boóp p’rá nắc vêy choom bơơn k’díc k’điêl…

             Apêê bhrợ têng bh’rợ pa chắp ch’mêết lêy xay moon đợ đhanuôr acoon cóh hân đoo vêy đhanuôr n’dúp 1 ức cha nắc nắc bh’rợ zư lêy văn hoá truyền thống lum bấc rau zr’nắh k’đháp, cóh đêếc ghít bhlâng nắc cắh choom prá p’rá âng acoon cóh đay. Bấc pa bhlâng đhanuôr acoon cóh xoọc đâu nắc đhiệp manuýh t’coóh ta ha nắc vêy choom prá p’rá acoon cóh đay, manuýh z’zăng ta ha nắc prá m’bứi lấh mơ, ha dợ lâng apêê ta đhâm c’mor, p’niên k’tứi nắc cắh prá cắh cậ nắc đhiệp prá m’bứi pa bhlâng. Ha dang bh’rợ prá p’rá cắh mr’cơnh cóh c’bhúh c’moo manuýh lâng vêy đhr’năng u xiêr bhlưa pazêng lang manuýh nắc boóp p’rá âng acoon n’nắc vêy đhr’năng u bil. Đhr’năng cơnh bơr nắc acoon cóh n’nắc cắh đươi chữ xrặ đoọng bhrợ t’váih boóp p’rá văn học cắh cậ cắh vêy chữ xrặ, cơnh apêê đhanuôr Xinh Mun, Khơ Mú, La Ha. Rau đêếc nắc boóp p’rá đhiệp ng’prá a năm, vặ bấc boóp p’rá âng p’rá Việt lâng cắh choom dưr váih ooy rau liêm choom lấh mơ. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Tạ Văn Thông , Viện Từ điển học lâng Bách khoa thư prá:

               Ha dang chữ xrặ cắh vêy ta đươi nắc cắh choom bhrợ t’váih boóp p’rá văn học. Vêy chữ xrặ nắc vêy choom bhrợ t’váih boóp p’rá crêê liêm bhlâng, cơnh đêếc nắc boóp p’rá văn học. Boóp p’rá văn học la lay cơnh p’rá prá xay, ahêê pa prá đh’rứah nắc m’bứi pa bhlâng cr’liêng p’rá ng’đươi, ha dợ boóp p’rá văn học nắc cr’liêng p’rá chr’nắp pr’hay lấh mơ, xa nay nắc bấc lấh mơ. Pazêng rau boóp p’rá cóh Việt Nam xoọc đâu nắc đhiệp ắt cóh p’rá ng’prá nắc cắh vêy boóp p’rá văn học. Ng’moon zazum nắc vêy ta pa diưr k’rơ. Rau bơr cậ, ha dang cắh vêy boóp p’rá văn học nắc đợ apêê xrặ bhrợ trường ca, lang bh’lêê bh’la, j’niêng cr’bưn nắc vêy pr’đơợ đoọng xrặ đớc ha lang t’tun. Bấc bhlâng apêê t’coóh ta ha xay truíh đoọng ha k’coon ch’chau xơợng a năm, bấc ngai prá xay nắc u váih la lay cơnh lâng đoo bêl apêê đoo cắh dợ nắc pazêng rau xa nay nắc ting xiêr ooy ping.

               Boóp p’rá nắc muy rau chr’nắp pa bhlâng, bhrợ t’váih rau chr’nắp pr’hay ooy văn hoá truyền thống âng muy acoon cóh. Đh’rứah lâng n’nắc lâng bh’rợ pa choom boóp p’rá, chữ xrặ phổ thông nắc ta đang moon đhanuôr acoon prá xay choom boóp p’rá, chữ xrặ âng acoon cóh đay. Đhị đêếc cậ, nắc ng’chêếc lêy, pa chô ooy bấc boóp p’rá lâng xay moon đoọng bấc ngai n’năl đợ rau chr’nắp âng văn học nghệ thuật- pazêng rau tác phẩm văn học chr’nắp tơợ đanh đươnh ahay đoọng ha lang t’tun, đoọng chrooi đoọng ooy bh’rợ zư lêy boóp p’rá âng đhanuôr acoon cóh./.

 

Ngôn ngữ dân tộc thiểu số trước nguy cơ bị mai một

 

 

         Trong số 6.700 ngôn ngữ đang được sử dụng khắp thế giới, chỉ có gần 4000 ngôn ngữ được truyền lại cho các thế hệ tiếp nối. Vì vậy nhiều ngôn ngữ bị lãng quên và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng không tránh khỏi quy luật ấy. Sự mất mát này sẽ diễn ra ngày càng nhanh hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, nếu chúng ta không có giải pháp tích cực để bảo tồn. Đề cập thực trạng này, phóng viên Phương Thúy có bài: "Ngôn ngữ dân tộc thiểu số trước nguy cơ bị mai một".   

                 Anh Thạch Đà Ni, chi hội văn học nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu cho biết một thực tế: không chỉ ở Bạc Liêu mà ở nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ, khi các cây bút trẻ thế hệ 7x, 8x có nhiều cơ hội học tập và giao lưu thì việc sử dụng tiếng phổ thông trong sáng tác ngày càng nhiều và thành thạo hơn so với tiếng dân tộc mình. Mặc dù hiện nay ở miền Tây Nam Bộ, những người làm văn học nghệ thuật vẫn đang duy trì song song hai hình thức sáng tác bằng tiếng phổ thông và tiếng dân tộc nhưng dường như môi trường sáng tác của văn học dân tộc thiểu số đang hẹp dần, trong phạm vi gia đình hoặc sinh hoạt cộng đồng là chính. Điều đó sẽ gây ra nhiều hệ lụy:

                 Từ chỗ không biết họ sẽ không thể nghiên cứu sâu về văn học nghệ thuật hoặc văn hóa của mình được. Bởi vì văn hóa của mỗi dân tộc chỉ cảm được khi đọc bằng ngôn ngữ của dân tộc đó. Họ biết viết nhưng lại không biết chữ và cũng có một số người biết chữ nhưng lại không biết viết. Cũng có một số người thuộc thế hệ 7x, 8x nhưng biết chữ Khơ Me, biết chữ dân tộc mình, nghiên cứu sâu về văn hóa nhưng lại không thành thạo trong việc thể hiện tác phẩm bằng chữ Việt nên tác phẩm ấy không đi xa hơn ngoài vùng hoặc ngoài gia đình của họ được.

         Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không chỉ bị yếu thế so với quá trình phổ cập tiếng phổ thông mà còn bị thay đổi trong quá trình giao lưu với ngôn ngữ các dân tộc khác. Hay nói cách khác, đó là sự xâm nhập của ngôn ngữ dân tộc đa số vào ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Như đồng bào Ơ Đu ở Tương Dương, Nghệ An hiện nay sử dụng tiếng Thái, tiếng Khơ Mú làm ngôn ngữ chính trong giao tiếp dẫn đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi người Thái hay Khơ Mú. GS.TS Trần Trí Dõi, Giám đốc Trung tâm “Nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: Trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay thì người Ơ Đu đã gần như mất tiếng nói. Sự mất dần ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số là một xu thế không thể ngăn cản được:

             Ví dụ như bây giờ, nếu như dạy ngôn ngữ cho một người Rục thì họ có thể giao tiếp được trong cộng đồng của họ. Nhưng khi mình dạy cho họ học tiếng Việt, để họ phát triển bình đẳng với người Việt thì khi quay về họ sẽ có tâm lý là ít sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Trong một dân tộc nhỏ, ở cạnh một dân tộc thiểu số khác lớn hơn, ví dụ như người Ơ Đu sinh sống cạnh người Thái thì khi nào già họ mới nghĩ rằng mình cần giữ lại tiếng Ơ Đu, còn khi trẻ thì họ vẫn nói tiếng Thái - nói tiếng có thể lấy vợ lấy chồng...

         Các nhà nghiên cứu cho rằng những dân tộc nào có dân số dưới 1 triệu người thì việc giữ gìn văn hóa truyền thống sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là không nói được tiếng mẹ đẻ. Rất nhiều dân tộc hiện nay chỉ có người già mới nói được tiếng mẹ đẻ, người trung niên thì nói ít hơn, còn thanh niên, trẻ em thì hầu như không nói hoặc chỉ nói trong hoàn cảnh hết sức hạn chế. Nếu việc sử dụng ngôn ngữ không đồng đều ở các nhóm tuổi và có xu hướng giảm dần giữa các thế hệ thì ngôn ngữ dân tộc ấy có nguy cơ biến mất rất cao. Nguy cơ thứ hai là dân tộc ấy không sử dụng chữ viết để hình thành ngôn ngữ văn học hoặc không có chữ viết của mình, như các dân tộc Xinh Mun, Khơ Mú, La Ha. Điều đó đồng nghĩa với việc ngôn ngữ sẽ dừng lại ở khẩu ngữ, mượn nhiều từ tiếng Việt và không được phát triển theo những hình thức cao hơn. PGS. TS Tạ Văn Thông, Viện Từ điển học và Bách khoa thư cho biết:

               Nếu chữ viết không được dùng thì nó không tạo thành ngôn ngữ văn học.Có chữ viết thì mới tạo thành ngôn ngữ chuẩn, tức ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ văn học khác khẩu ngữ, chúng ta nói chuyện với nhau thì từ ngữ hạn chế, còn ngôn ngữ văn học thì vốn từ sang trọng hơn, câu cú triết lý, hình tượng hơn. Các ngôn ngữ ở Việt Nam hiện chủ yếu dừng lại ở khẩu ngữ mà không có ngôn ngữ văn học đi kèm. Tóm lại nó không được phát triển lên. Thứ hai nếu không có ngôn ngữ văn học thì những người sáng tác ra trường ca, cổ tích, luật tục, tục ngữ thành ngữ không có điều kiện ghi lại cho thế hệ sau. Phần lớn những người già kể cho con cháu nghe theo đường truyền miệng, tam sao thất bản đi và khi họ mất sẽ đem theo tất cả xuống mồ.

         Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng, làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của một dân tộc. Song song với việc phổ cập ngôn ngữ, chữ viết phổ thông thì cần khuyến khích đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Bên cạnh đó, cần sưu tầm, biên dịch và phổ biến những giá trị văn học nghệ thuật -các tác phẩm văn học qúy báu từ xa xưa truyền lại cho hậu thế, để góp phần bảo tồn ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số./.

 


Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC