Chăp têy nâu hêê lêy u buôn ha dợ năc đơc chr’năp ga măc ooy loom chăp, loom ta nih liêm âng coon ma nưih. Ting c’xêê, c’moo, tr’pang têy chăp pa liêm ơy vaih muy chr’năp văn hóa, bơơn đhanuôr Khmer zư lêy tơợ zập lang a hay
Coh văn hoá ăt prá âng manưih Khmer, bhiệc chăp têy k’coh căh năc mưy râu lưm ta mooh năc dzợ bhrợ p’căh ooy đăh tuổi, pr’ăt pr’dzoọng, bh’rợ tr’nêng lâng đợ mơ lêy chăp lâng manưih âng đay lưm lêy.
Lâng đợ apêê ga rựa t’ha, vêy pr’ăt bh’rợ ma mơ lâng đay căh c pr’zợc, bơr têy lêy đợc k’coh đhị đhi đhưa. Bêl manưih k’tứi p’niên lâh lâng vêy pr’ăt bh’rợ zi rung lâh mơ lêy lưm prá lâng apêê ga rựa t’ha lâh, vêy pr’ăt bh’rợ dal chr’năp lâh căh cậ cấp piing, năc bơr tr’pang têy lêy k’coh đợc ma mơ đhị boọp; manưih ta chăp lêy k’coh nâu năc cung lêy k’coh đợc têy mơ đhi đhưa.
Đợ mơ lêy chăp chr’năp dal lâh vêy bhrợ p’căh lâng bh’rợ k’coh dal tươc moh. Nâu đoo năc c’lâng bh’rợ đoọng apêê k’coon cha châu lưm ta mooh, chăp hơnh k’căn k’conh, da dich bha bhướp; học trò lêy chào thầy cô giáo căh cậ bhrợ p’căh râu chăp nhêr lâng đợ apêê vêy c’rơ g’lêêh lâng đay. Bêl lêy bhrợ chăp apêê sư căh cậ đợ apêê pa bhlâng lêy chăp, bơr têy vêy k’coh đợc ma mơ lâng a’giing măt. Lâng apêê a’bhô dang, chư thiên lâng đợ apêê ma bhưy chr’năp, bơr têy vêy ha dưr k’coh dal lâh mơ, tươc mang.
Ting cơnh zâp tài liệu lêy cha mêêt ooy văn hoá Khmer, bh’rợ lêy k’coh, lưm ta mooh liêm ta nih nâu ơy vaih tơợ đanh. Bh’rợ lưm ta mooh nâu năc vêy n’leh vaih tơợ lăm bêl Phật giáo chô moot ooy zr’lụ k’tiêc âng manưih Khmer, pa zưm lâng pr’ăt tr’mung ma bhưy chr’năp tơợ lang Bà La Môn giáo. T’cooh Achar Thạch Sinh, manưih coh Ban k’đhơợng zư chùa Lò Gạch, chr’val Song Lộc, tỉnh Vĩnh Long, manưih lêy cha mêêt j’niêng bh’rợ lâng chơơc lêy đợ râu ty chr’năp văn hoá Khmer moon:
“Ting cơnh đợ tài liệu âng cu ơy đọc, bh’rợ lêy k’coh, lưm ta mooh vaih lăm bêl Phật giáo lươt moot ooy zr’lụ k’tiêc nâu, năc tơợ bêl đhanuôr Khmer dzợ ting Bà La Môn giáo. Bêl lêy moot đạo Phật, năc bh’rợ lêy k’coh lâng bơr pêê bh’rợ tơợ lang Bà La Môn giáo dzợ vêy manưih Khmer zư đợc, bhrợ tươc đâu”.
Tơợ j’niêng bh’rợ lêy k’coh chăp ooy pr’ăt tr’mung tôn giáo, bhiệc k’coh nâu năc vêy lêy đươi ooy zâp bêl lưm prá zâp t’ngay, vaih năc mưy râu liêm chr’năp lêy đươi bhrợ coh đhanuôr zư đợc bâc lang. T’cooh Achar Thạch Sang, manưih coh Ban k’đhơợng zư chùa Thạch Điệp, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long moon:
“Zêng j’niêng bh’rợ ty chr’năp cung cơnh tôn giáo, ghit lâh năc zâp bh’rợ lêy bhrợ coh chùa xoọc đâu zêng vêy bhrợ p’căh ooy đăh lêy k’coh. Nâu đoo năc râu lêy chăp nhêr lâng vêy cơnh chr’năp lalay âng acoon coh Khmer. Râu lêy chăp nâu vêy pa dưr dal ooy đăh văn hoá lêy bhrợ âng manưih Khmer”.
Căh mưy n’leh vaih ooy zâp zr’niêng bh’rợ coh chùa, k’coh nâu dzợ bhrợ p’căh đhị bâc j’niêng ty chr’năp âng đhanuôr Khmer, lâh mơ năc xay xơ. Mưy g’luh xay xơ ty chr’năp, diịc điêl lêy k’coh tháp bai sây-đhị bhuôih tô bhuh, bhrợ p’căh râu lêy chăp lâng tô bhuh bơr đăh pr’loọng đông.
Bhiệc nâu vêy bhrợ p’căh lâng bh’rợ lêy k’coh, lêy ha dưr têy ma mơ lâng a’giing măt lâng chi ngập, bhrợ p’căh râu lêy chăp lâng rơơm tô bhuh lêy cha mêêt đoọng ha nhi diịc điêl p’niên. T’cooh Maha Thạch Thiệt coh chr’val Song Lộc, tỉnh Vĩnh Long, mưy Achar năl ghit ooy đăh giáo lý, j’niêng bh’rợ lâng buôn k’đhơợng bhrợ, pa choom zâp j’niêng bh’rợ ooy đăh xay xơ đoọng năl:
“Mưy ooy đợ j’niêng bh’rợ lêy bhrợ coh xay xơ âng đhanuôr Khmer năc đoo diịc điêl lêy bhrợ k’coh tháp bai sây lâng đhị bhuôih tô bhuh, bhrợ p’căh râu lêy chăp tươc tô bhuh bơr đăh. Bhiệc lêy k’coh nâu năc bơr têy pa zưm, ha dợ tươc a’giing mặt, lêy hi ngập đoọng zươc cung cơnh lêy cha mêêt âng tô bhuh”.
Đhị pr’ăt tr’mung cơnh xoọc đâu, bêl bâc j’niêng bh’rợ ty chr’năp vêy đhr’năng bil pât, bhiệc năl liêm ghit râu chr’năp lâng bhrợ liêm crêê cơnh j’niêng bh’rợ lêy k’coh, lưm ta mooh năc ting chr’năp đăh zư lêy đợ văn hoá Khmer. Tu đăh hoọng râu lêy bhrợ nâu năc râu chăp nhêr, liêm ta nih ơy bơơn đhanuôr zư lêy bâc lang. Lêy pa choom đoọng j’niêng bh’rợ nâu cung năc lêy đoọng đợ văn hoá liêm chr’năp, đoọng đợ râu chr’năp liêm âng a’conh a’bhươp a’hay vêy ăt n’leh vaih coh pr’ăt tr’mung bêl đâu lâng ha y chroo./.
CỬ CHỈ CHẮP TAY BÁI, CHÀO HỎI - NÉT ĐẸP TRONG VĂN HÓA KHMER
Trong đời sống văn hóa của đồng bào Khmer, chắp tay bái, chào hỏi là một cử chỉ quen thuộc, hiện diện trong giao tiếp hằng ngày cũng như các nghi lễ tôn giáo, truyền thống. Cử chỉ tưởng chừng đơn giản ấy chứa đựng nhiều ý nghĩa về sự kính trọng, lễ phép và cách ứng xử giữa người với người. Trải qua thời gian, đôi bàn tay chắp lại đã trở thành một nét đẹp văn hóa, được cộng đồng Khmer gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ
Trong văn hóa ứng xử của người Khmer, chắp tay không chỉ đơn thuần là một động tác chào hỏi mà còn thể hiện tuổi tác, địa vị, mối quan hệ và mức độ tôn kính đối với người đối diện.
Với những người có tuổi tác, địa vị tương đương hoặc bạn bè, hai bàn tay được chắp ở ngang ngực. Khi người nhỏ tuổi hoặc có địa vị thấp hơn chào người lớn tuổi, người có địa vị cao hơn hoặc cấp trên, hai bàn tay được đưa lên ngang miệng; người được chào đáp lễ bằng cách chắp tay ở ngang ngực.
Mức độ cung kính cao hơn được thể hiện bằng động tác chắp tay ngang chóp mũi. Đây là cách con cháu chào cha mẹ, ông bà; học trò chào thầy cô giáo hoặc thể hiện sự kính trọng đối với những người có công ơn với mình. Khi kính lễ các vị sư hoặc những người đặc biệt tôn kính, hai bàn tay được đưa lên ngang mày. Với các vị thần linh, chư thiên và những đối tượng linh thiêng, hai bàn tay được đưa cao hơn, lên trên trán.
Theo các tài liệu nghiên cứu về văn hóa Khmer, cử chỉ chắp tay bái, chào hỏi có lịch sử lâu đời. Hình thức chào hỏi này được cho là đã xuất hiện từ trước khi Phật giáo du nhập vào vùng đất của người Khmer, gắn với đời sống tín ngưỡng từ thời Bà La Môn giáo. Ông Achar Thạch Sinh, thành viên Ban quản trị chùa Lò Gạch, xã Song Lộc, tỉnh Vĩnh Long, người nghiên cứu phong tục, tập quán và sưu tầm những cổ vật mang văn hóa Khmer, cho biết:
“Theo những tài liệu tôi đọc được, cử chỉ chắp tay bái, chào hỏi nhau xuất hiện trước khi Phật giáo du nhập vào vùng đất này, tức từ khi đồng bào Khmer còn theo Bà La Môn giáo. Khi chuyển qua đạo Phật, thì cử chỉ chắp tay bái và một số nghi thức từ thời Bà La Môn giáo vẫn được người Khmer lưu giữ, thực hiện cho đến hiện tại”.
Từ nghi thức lễ bái trong đời sống tôn giáo, cử chỉ chắp tay dần được vận dụng trong giao tiếp hằng ngày, trở thành một chuẩn mực ứng xử được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ. Ông Achar Thạch Sang, thành viên Ban quản trị chùa Thạch Điệp, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long chia sẻ:
“Tất cả nghi thức truyền thống cũng như tôn giáo, cụ thể là các nghi thức được tiến hành trong chùa hiện nay đều được thể hiện qua cử chỉ chắp tay bái. Đây là cử chỉ thể hiện sự tôn kính, lễ phép và mang bản sắc riêng của dân tộc Khmer. Sự cung kính được đề cao trong văn hóa ứng xử của người Khmer”.
Không chỉ xuất hiện trong các nghi lễ ở chùa, chắp tay bái còn hiện diện trong nhiều phong tục truyền thống của đồng bào Khmer, đặc biệt là lễ cưới. Trong một đám cưới truyền thống, cô dâu và chú rể thực hiện lễ bái tháp bai sây - bàn thờ tổ, thể hiện sự cung kính đối với tổ tiên hai họ.
Động tác này được thực hiện bằng cách chắp hai bàn tay, đưa điểm giữa lên ngang chân mày và nghiêng mặt xuống, thể hiện sự xin phép và mong được tổ tiên chứng giám cho cuộc hôn nhân của đôi trẻ. Ông Maha Thạch Thiệt, ở xã Song Lộc, tỉnh Vĩnh Long, một Achar am hiểu về giáo lý, phong tục, tập quán và thường đóng vai trò chủ trì, hướng dẫn các nghi thức trong lễ cưới, cho biết:
“Một trong những nghi thức bắt buộc trong lễ cưới của đồng bào Khmer là cô dâu, chú rễ phải tiến hành lễ bái tháp bai sây và bàn thờ tổ, thể hiện sự cung kính đến tổ tiên hai họ. Động tác bái là hai bàn tay chắp lại, đưa lên giữa chân mày, nghiêng mặt xuống để xin phép cũng như sự chứng giám của tổ tiên”.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều phong tục truyền thống có nguy cơ mai một, việc hiểu đúng ý nghĩa và thực hành đúng nghi thức chắp tay bái, chào hỏi càng có ý nghĩa trong gìn giữ bản sắc văn hóa Khmer. Bởi đằng sau một động tác tưởng như giản dị là sự lễ phép, lòng thành kính và những chuẩn mực ứng xử đã được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trao truyền cử chỉ ấy cũng chính là trao truyền một phần bản sắc văn hóa, để những giá trị tốt đẹp của cha ông tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay và mai sau./.
Viết bình luận