Ooy đâu, bh’rợ boọc coọch bh’lêê bh’la âng đhanuôr Ba Na năc mưy ooy đợ bh’rợ chr’năp, vêy râu chr’năp liêm đăh lịch sử lâng ma bhưy.
Đhị râu cha ngaách liêm coh k’coong ch’ngai Kon Plông, xa nưl h’ngoo xưl cơnh râu hâng hơnh liêm pr’hay âng crâng k’coong. Đhị bha đưn da ding choh h’ngoo bbưah k’dâng 3 hécta, ăt đhị toor c’lâng 24, năc đhị zr’lụ ăt bhrợ văn hoá lâng ch’na đh’năh Đông Trường Sơn n’leh vaih têêm ngăn, liêm tr’đăn.
Đhị đâu cơnh mưy bảo tàng ma mung coh crâng k’coong. Ta mooi chô ooy đâu căh mưy bơơn xơợng plêệng k’tiêc đha hư cha ngaách, lêy chr’tôp đông rông ga măc dal, đợ zơng đợc ha roo, cha nur âng acoon coh ooy Tây Nguyên, năc dzợ bơơn lêy đợ tượng n’loong liêm chr’năp. Đhị đợ tơơm h’ngoo nâu, lươt truih c’lâng k’tứi, k’zệt bêệ tượng n’loong đợc dzoọng đhị đêêc liêm pr’hay: manưih k’căn bhặ k’coon, pân đil cloh ha roo, mưy đha đhâm n’toong chiing, đợ zợ buah n’dza, đợ n’năng a’chim, râu a’đhăh dzăm... zâp đoo nâu năc cơnh mưy xa nay t’ruih. Xa nay t’ruih nâu căh vêy xrặ lâng chữ, năc vêy xay truih lâng đợ râu boọc bhrợ lâng chuung, pạ đh’rưah lâng cr’noọ bh’rợ âng manưih boọc bhrợ.
Manưih lêy bhrợ ooy đợ c’năt n’loong nâu năc manưih boọc coọch n’loong bh’lêê bh’la manưih Ba Na A Tân, c’moo đâu 56 c’moo. T’cooh tươc lâng bh’rợ nâu tơợ 35 c’moo ahay, mưy ruh c’moo căh dzợ p’niên đoọng lêy tơợp bhrợ mưy bh’rợ t’mêê. Hân đhơ cơnh đêêc, lâng râu chăp kiêng lâng tượng n’loong lâng râu chăp kiêng văn hoá âng acoon coh đay năc k’đhơợng zư đoọng ha t’cooh lêy ăt bhrợ lâng bh’rợ nâu lâh 20 c’moo hanua. Nghệ nhân A Tân moon:
“C’la cu căh vêy pa choom, cung căh vêy ngai pa choom đoọng, lêy apêê boọc bhrợ coh tivi năc chăp kiêng, acu ting boọc bhrợ lâng choom... Tơợ bêl 35 c’moo ahay tươc đâu cung lâh 20 c’moo ơy. Bêl tơợp bhrợ cung k’đhạp, n’loong ting ha vooh hư, ha dợ ặt bhrợ ta luôn cung choom. Nâu cơy apêê đơơng n’loong n’đoo năc acu boọc bhrợ n’loong n’năc. Tượng n’toong chiing, ộm buah, k’căn bhặ k’coon... tượng n’đoo acu cung choom bhrợ. Acu boọc bhrợ căh năl mơ bâc ơy, mưy c’xêê vêy bêl bhrợ 20 tươc 30 tượng. Acu bhrợ năc căh vêy châc xrặ lăm, mưy cha mêêt lêy ghit năc vêy choom bhrợ”.
Lâng đợ nghệ nhân cơnh t’cooh A Tân, boọc bhrợ tượng căh vêy tơợp đhị râu xrặ bhrợ lăm, cung căh vêy đh’năng đăng lêy căh cậ máy mọc cơnh xoọc đâu. Zêng lêy t’cooh ơy năl zư đợc coh a’cọ, ooy cr’liêng măt lêy cha mêêt lâng coh tr’pang têy ơy ta luôn bhrợ đợ c’năt n’loong.
Pr’đươi pr’dua đoọng lêy boọc bhrợ căh liêm bâc: vêy mưy bêệ chuung đoọng bhrợ t’vaih c’leh pr’dzoọng, bơr pêê bêệ pạ đoọng buôn pạ pa liêm, vêy lâng chi piah lấp đoọng buôn coọch bhrợ liêm xa xil. Zâp chu plooh lâng chuung, pạ bhrợ chr’va xưl đhị crâng h’ngoo xơợng liêm nhâm, cơnh pr’hơơm âng bh’rợ ty ahay dzợ ặt chr’va vaih.
Tơợ đợ c’năt n’loong k’noọ lêy căh râu choom đươi, đhị tr’pang têy liêm choom âng manưih nghệ nhân Ba Na, đợ pr’dzoọng manưih, a’đhăh dzăm n’leh vaih. Nâu đoo năc đợ manưih k’căn bhặ k’coon, pân đil cloh ha roo, đha đhâm n’toong chiing, manưih t’cooh t’ha tơt đhị zợ buah n’dza... Zêng lêy doọ vêy bhrợ bâc cơnh, ha dợ năc vêy ma bhưy chr’năp, tr’đăn liêm cơnh pr’ăt tr’mung zâp t’ngay âng vêêl đông. Đợ tượng nâu căh mưy bhrợ pa liêm đoọng ha đhị zr’lụ ăt bhrợ văn hoá lâng ch’na đh’năh Đông Trường Sơn, năc dzợ chrooi pa xoọng xay truih cớ đợ xa nay t’ruih ooy pr’ăt tr’mung, j’niêng cr’bưn lâng cr’noọ bh’rợ âng manưih Ba Na coh crâng k’coong nâu.
T’cooh Đặng Đình Toán, Phó Chủ tịch UBND chr’val Kon Plông, manưih xay moon bhrợ pa dưr bhươn tượng ooy zr’lụ bhrợ văn hoá lâng ch’na đh’năh Đông Trường Sơn nâu moon:
“Azi k’đươi nghệ nhân A Tân tơợ Kon Rẫy lươt ooy đâu. Anoo ơy bơơn Chủ tịch nước cher đoọng ch’ner nghệ nhân dân gian, vêy kinh nghiệm lâng bhrợ chr’năp liêm bhlâng. Boọc bhrợ nâu vêy cơnh nghệ thuật bh’lêê bh’la năc căh vêy 1 râu ơy xrặ lăm, bhrợ têng lăm, vêy lêy bhrợ pa dưr tơợ pr’ăt tr’mung zâp t’ngay âng đhanuôr, apêê lêy k’noọ bhrợ tượng ha cơnh lâng đươi râu pr’đươi pr’dua n’hâu đoọng lêy boọc bhrợ đợ tượng cơnh đâu. Lâng bêl boọc bhrợ tượng cơnh đâu lêy tượng chr’năp ma bhưy bhlâng, lêy ooy tượng nâu năc bơơn lêy nghệ nhân ơy bhrợ p’căh râu liêm chr’năp ooy tượng, lalay lâng đợ tượng lơơng âng hêê bhrợ lâng zâp c’lâng bh’rợ n’lơơng”.
Tượng n’loong tơợ đanh năc mưy râu văn hoá ty chr’năp, pa zưm liêm nhâm lâng pr’ăt tr’mung âng đhanuôr Ba Na. Tơợ bêl acoon manưih choom rêên, dưr ga măc liêm coh vêêl đông, tươc bêl chêêt bil, c’leh pr’dzoọng âng tượng n’loong nâu dzợ n’leh vaih đhị râu ma bhưy chr’năp, tr’đăn liêm bhlâng lâng đhanuôr coh vêêl đông.
Boọc bhrợ n’loong ty chr’năp âng Ba Na vêy bâc cơnh lêy bhrợ p’căh, hân đhơ cơnh đêêc, chr’năp bhlâng năc bơr râu hình bha lâng: tượng bhrợ pa chăm coh đông rông lâng tượng bhrợ coh ping xal. Ha dang đợ tượng coh đông rông buôn xay truih ooy pr’ăt tr’mung zâp t’ngay âng vêêl bhươl, cơnh lươt p’panh, bhrợ ha rêê, n’toong chiing, ộm buah n’dza, ăt pa zưm đh’rưah coh vêêl đông, năc tượng coh ping vêy chr’năp ma bhưy la lay lâh. Đhị đâu năc đhị manưih Ba Na lêy pa gơi râu mâng loom, hay k’noọ lâng âng đơơng manưih lâh bil.
Ooy đợ c’leh bh’rợ chr’năp ma bhưy, tượng coh ping cơnh mưy pa noong p’têêt âng manưih ma mung lâng manưih bil. Zâp đoo tượng căh nặc mưy bh’nơơn pr’đươi âng tr’pang têy manưih nghệ nhân, năc dzợ p’rá xa nay ooy ahay a’hươn, âng j’niêng bh’rợ, âng râu ma bhưy chr’năp manưih Ba Na vêy pa choom đoọng bâc lang xoọc đâu.
Nghệ nhân A Tân moon:“Lâng đhanuôr bêl ahay apêê đợc tượng đhị ping đoọng zư lêy đợ apêê lâh bil. Bêl ahay, ping xal liêm aih bhlâng, ra diu n’đoo cung lêy prih dooh, câm oih; đợ nâu cơy căh dzợ mặ zư lêy năc lêy boọc bhrợ đợ tượng nâu đoọng đương goon zư lêy a’bhướp a’dich, tô bhuh apêê lâh bil, ha dang lơi căh choom”.
Lâh 20 c’moo ăt bhrợ lâng bh’rợ boọc coọch, t’cooh Tân căh mặ hay k’noọ a’đay boọc bhrợ ha mơ bâc tượng. Hân đhơ cơnh đêêc, râu bhrợ t’cooh ăt k’rang bhlâng năc râu lêy lơi âng lang p’niên xoọc đâu lâng văn hoá ty chr’năp âng acoon coh. Boọc coọch nâu căh mưy đươi lâng tr’pang têy zay ta bach năc dzợ lâng râu p’zay lêy bhrợ. Hân đhơ lâng A Hiêu, k’coon n’jưih t’lạch âng t’cooh Tân, manưih ơy ting pa choom bh’rợ nâu ooy bâc c’moo đâu cung lêy k’đhạp đoọng ting bhrợ pa dưr bh’rợ âng k’conh đay:
“Acu kiêng bhlâng bh’rợ boọc coọch âng ama. Zâp bêl đhêy học năc ting ama lươt bhrợ lâng pa choom. Bêl tr’nơợp acu cung kiêng đợ ha y chroo vêy choom boọc bhrợ đợ tượng n’loong la liêm cơnh ama cu bhrợ, ha dợ acu lêy bhiệc nâu căh vêy buôn”.
T’cooh A Tân moon, boọc bhrợ tượng căh năc mưy bh’rợ t’bơơn zên năc lêy k’đươi moon râu p’zay t’bhlâng, chăp kiêng đh’rưah lâng râu cr’noọ tr’kiêng lâng crâng k’coong, lâng văn hoá ty ahay âng acoon coh. Tu cơnh đêêc, râu bhrợ t’cooh k’rang bhlâng xoọc đâu năc căh ơy bơơn lêy manưih lêy p’têêt pa dưr bh’rợ nâu đoọng lêy pa choom:
“Nâu cơy lang p’niên ting bh’rợ nâu căh vêy, acu t’mêê đoọng apêê k’coon lươt đh’rưah đoọng pa choom. Coh vêêl ngai kiêng pa choom năc acu zêng pa choom đoọng, ha dợ apêê moon k’đhạp, căh ngai kiêng bhrợ. Acu vêy 6 p’nong k’coon, apêê zêng vêy năl tr’bứi ha dợ căh ngai vêy ting pa choom bhrợ cơnh acu. Acu k’rang bhlâng, ha y chroo căh dzợ ma mung năc bh’rợ nâu cung bil pât”.
Đhị râu xa nưl âng tơơm h’ngoo coh crâng k’coong Kon Plông, đợ bêệ tượng n’loong đhị zr’lụ bhrợ văn hoá lâng ch’na đh’năh Đông Trường Sơn căh mưy bhrợ pa liêm cruung k’tiêc đhị đâu, năc dzợ xay truih ooy pr’ăt tr’mung, j’niêng bh’rợ lâng râu cr’noọ cr’niêng âng đhanuôr Ba Na. Zâp đoo pạ bhrợ, ta răh lâng chuung âng nghệ nhân A Tân cơnh pa gơi t’moot ooy c’năt n’loong râu ahay a’hươn âng vêêl bhươl, mưy râu chăp kiêng lâng văn hoá ty ahay.
Râu cr’noọ k’rang âng t’cooh A Tân cung năc râu k’rang moon âng bâc apêê nghệ nhân: bhrợ ha cơnh đoọng bh’rợ ty chr’năp ahay doọ choom bil pât, đoọng lang p’niên dzợ n’năl ghit lâng p’têêt zư pa dưr đợ râu chr’năp liêm âng a’conh a’bhươp đợc đoọng. Lâng râu k’rang lêy âng Nhà nước, râu lươt đh’rưah âng chính quyền vêê đông, ngành chức năng lâng đợ apêê p’zay bhrợ pa dưr coh vêêl đông, bh’rợ boọc coọch n’loong ty chr’năp âng Ba Na vêy ting zư pa dưr, pa choom đoọng lâng clan bhưah lâh; đoọng đợ bêệ tượng n’loong coh crâng k’coong nâu dzợ ặt vaih ma bhưy chr’năp, vêy p’rá xa nay coh pr’ăt tr’mung xoọc đâu./.
GIỮ NGHỀ ĐIÊU KHẮC GỖ DÂN GIAN TRUYỀN THÔNG CỦA ĐỒNG BÀO BA NA
Vùng núi phía Tây tỉnh Quảng Ngãi không chỉ thu hút du khách bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, mà còn bởi kho tàng văn hóa đa dạng của các dân tộc anh em. Trong đó, nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian của đồng bào Ba Na là một trong những biểu tượng đặc sắc, mang trong mình giá trị lịch sử và tâm linh.
Giữa không gian trong trẻo của cao nguyên Kon Plông, tiếng thông reo như lời chào dịu nhẹ của núi rừng. Trên ngọn đồi thông rộng khoảng 3 héc-ta, nằm ngay bên Quốc lộ 24, Không gian văn hóa và ẩm thực Đông Trường Sơn hiện ra bình yên, gần gũi mà giàu sức gợi.
Nơi đây giống như một bảo tàng sống giữa đại ngàn. Du khách đến không chỉ để tận hưởng khí hậu mát lành, ngắm mái nhà rông cao vút, những kho lúa, cây nêu mang đậm dấu ấn Tây Nguyên, mà còn để bước chậm giữa một vườn tượng gỗ độc đáo. Dưới tán thông già, men theo những lối đi nhỏ, hàng chục bức tượng gỗ lặng lẽ đứng đó, mộc mạc mà sống động: người mẹ địu con, người phụ nữ giã gạo, chàng trai đánh chiêng, những ché rượu cần, những cánh chim, dáng thú của núi rừng…Mỗi bức tượng như một câu chuyện. Câu chuyện ấy không viết bằng chữ, mà được kể bằng đường rìu, nhát đục, bằng thớ gỗ và bằng cả tâm hồn của người nghệ nhân.
Người thổi hồn vào những khúc gỗ ấy là nghệ nhân điêu khắc gỗ dân gian Ba Na A Tân, năm nay 56 tuổi. Ông đến với nghề khi đã 35 tuổi, cái tuổi không còn quá trẻ để bắt đầu một hành trình mới. Vậy nhưng, tình yêu với tượng gỗ dân gian và niềm say mê văn hóa của dân tộc mình đã níu chân ông ở lại với nghề suốt hơn 20 năm qua. Nghệ nhân A Tân bộc bạch:
"Bản thân tôi không học cũng không ai truyền dạy nhưng xem người ta tạc tượng trên tivi thấy thích, tôi bắt chước rồi cứ đục đẽo, dần dần rồi quen... Từ năm 35 tuổi đến giờ là hơn 20 năm rồi. Mới đầu làm khó lắm, gỗ cứ bị nứt, nhưng làm miết rồi hắn quen. Bây giờ họ đưa gỗ nào mình tạc gỗ đó. Tượng đánh chiêng, uống rượu ghè, mẹ bồng con... tượng nào tôi cũng làm được hết. Tôi tạc không biết bao nhiêu mà kể, một tháng có khi làm tới 20, 30 tượng. Mình làm là không cần vẽ, chỉ nhắm nhắm cái bụng là làm được thôi."
Với những nghệ nhân như ông A Tân, tạc tượng không bắt đầu từ bản vẽ, cũng không cần thước đo hay máy móc hiện đại. Tất cả gần như được giữ trong trí nhớ, trong đôi mắt quan sát và trong đôi bàn tay đã quen với từng thớ gỗ.
Dụng cụ của ông rất đơn sơ: một chiếc rìu để phác hình, vài chiếc đục nhỏ để tạo nét, thêm con dao sắc để gọt giũa cho mềm dáng tượng. Mỗi nhát rìu, nhát đục vang lên giữa rừng thông nghe mộc mạc, chắc nịch, như nhịp thở của nghề xưa còn vọng lại.
Từ những khúc gỗ tưởng như vô tri, dưới bàn tay khéo léo của người nghệ nhân Ba Na, từng dáng người, dáng vật dần hiện ra. Đó là người mẹ địu con, người phụ nữ giã gạo, chàng trai đánh chiêng, người già ngồi trầm tư bên ché rượu cần… Tất cả không cầu kỳ, bóng bẩy, nhưng có hồn, có vía, gần gũi như chính đời sống thường ngày của buôn làng. Những bức tượng ấy không chỉ làm đẹp thêm cho Không gian văn hóa và ẩm thực Đông Trường Sơn, mà còn góp phần kể lại câu chuyện về đời sống, tín ngưỡng, phong tục và tâm hồn của người Ba Na giữa đại ngàn.
Ông Đặng Đình Toán, Phó Chủ tịch UBND xã Kon Plông, người đưa ý tưởng xây dựng vườn tượng vào Không gian văn hóa và ẩm thực Đông Trường Sơn, cho biết:
“Chúng tôi mời nghệ nhân A Tân từ Kon Rẫy lên đây. Anh ấy đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian, có kinh nghiệm và cách làm rất đặc biệt. Điêu khắc này mang tính nghệ thuật dân gian nên không có 1 bản vẽ, thiết kế nào được định hình trước hết và chính từ cuộc sống thường nhật của người dân, người ta sẽ tưởng tượng ra bức tượng như thế và bằng công cụ thô sơ người ta tạc lên những bức tượng như thế. Và khi tạc lên bức tượng như thế thấy bức tượng rất có hồn mặc dầu nó rất là thô sơ và mộc mạc nhưng mà nhìn vào bức tượng ta thấy nghệ nhân đã thổi hồn vào bức tượng, nó khác với những bức tượng bình thương mà chúng ta làm bằng các phương pháp khác”.
Tượng gỗ từ lâu đã là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc, gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào Ba Na. Từ khi con người cất tiếng khóc chào đời, lớn lên giữa buôn làng, rồi đến lúc về với tổ tiên, bóng dáng của tượng gỗ vẫn hiện diện trong những không gian thiêng liêng và gần gũi của cộng đồng.
Điêu khắc gỗ dân gian Ba Na có nhiều cách thể hiện, nhưng nổi bật nhất là hai loại hình chính: tượng trang trí trong nhà rông và tượng nhà mồ. Nếu những bức tượng ở nhà rông thường kể về cuộc sống thường ngày của buôn làng, như cảnh đi săn, làm rẫy, đánh chiêng, uống rượu cần, sinh hoạt cộng đồng, thì tượng nhà mồ lại mang màu sắc tâm linh sâu lắng hơn. Đó là nơi người Ba Na gửi gắm niềm tin, nỗi nhớ và sự tiễn đưa dành cho người đã khuất.
Qua những hình khối mộc mạc, thô ráp mà giàu cảm xúc, tượng nhà mồ như một nhịp cầu nối giữa người sống và người đã về với thế giới tổ tiên. Mỗi bức tượng không chỉ là sản phẩm của đôi tay người nghệ nhân, mà còn là tiếng nói của ký ức, của phong tục, của tâm hồn Ba Na được truyền lại qua bao thế hệ.
Nghệ nhân A Tân chia sẻ:“Đối với đồng bào trước nay người ta để tượng nhà mồ để canh khác những người đã khuất. Trước đây, nhà mồ rất sạch sẽ, sáng nào cũng quét dọn, đốt lửa; sau này canh không nổi nữa thì đúc những tượng gỗ này để thay thế con người, canh gác, bảo vệ ông bà tổ tiên, nếu bỏ đi sẽ dở đi”.
Hơn 20 năm gắn bó với nghề tạc tượng gỗ, ông Tân không nhớ mình đã tạc bao nhiêu bức tượng. Thế nhưng điều khiến ông trăn trở nhất chính là sự thờ ơ của lớp trẻ ngày nay với văn hóa truyền thống dân tộc. Điêu khắc không chỉ cần bàn tay khéo léo mà còn cần cả sự nhẫn nại. Ngay cả A Hiêu, con trai út của ông Tân, người từng theo ông học nghề mấy năm nay cũng cảm thấy khó để nối nghiệp cha:“Con rất thích nghề điêu khắc của cha. Mỗi khi được nghỉ học con đều theo cha đi làm để phụ và học theo cha. Lúc đầu con cũng mong muốn sau này sẽ điêu khắc được những bức tượng gỗ đẹp như cha nhưng con thấy điều đó không dễ chút nào”.
Ông A Tân cho rằng, tạc tượng gỗ không chỉ là nghề mưu sinh mà đòi hỏi sự kiên trì, đam mê và một tình yêu mãnh liệt với núi rừng, với văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì thế, điều khiến ông âu lo nhất hiện nay là vẫn chưa tìm được người kế cận để trao nghề:"Bây giờ lớp trẻ theo nghề này không có rồi, tôi mới cho mấy đứa con đi theo để học. Trong làng ai thích học tôi đều hướng dẫn nhưng họ bảo khó, không ai muốn làm. Tôi có 6 đứa con, tụi nó cũng biết chút ít nhưng không đứa nào chịu theo nghề chính. Tôi lo lắm, sợ sau này mình khuất núi rồi thì cái nghề này cũng mất đi..."
Giữa tiếng thông reo của núi rừng Kon Plông, những bức tượng gỗ mộc mạc nơi Không gian văn hóa và ẩm thực Đông Trường Sơn không chỉ làm đẹp thêm cảnh quan, mà còn lặng lẽ kể câu chuyện về đời sống, phong tục và tâm hồn của đồng bào Ba Na. Mỗi nhát đục, đường rìu của nghệ nhân A Tân như gửi vào thớ gỗ một phần ký ức của buôn làng, một phần tình yêu với văn hóa truyền thống.
Nỗi niềm của ông A Tân cũng là trăn trở của nhiều nghệ nhân: làm sao để nghề xưa không mai một, để lớp trẻ còn biết yêu, biết hiểu và tiếp nối những giá trị cha ông để lại. Với sự quan tâm của Nhà nước, sự đồng hành của chính quyền địa phương, ngành chức năng và chính những người tâm huyết trong cộng đồng, nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Ba Na sẽ tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và lan tỏa; để những bức tượng gỗ nơi đại ngàn mãi có hồn, có tiếng nói trong đời sống hôm nay./.
Viết bình luận