Dâng mưy c’xêê nâu, amoó Coor Đới ặt vel Rơ Rang, chr’val Bến Giằng trơ vâng lâng bh’rợ pêêh pay p’lêê t’boon. Lâh mơ cr’chăl lướt bhrợ ha rêê, amoó ta luôn moọt ooy bhươn, pêêh t’boon ơy đoọm pa câl.
Amoó Đới đoọng năl, lalăm a hay tơơm t’boon toon chăt vaih coh crâng căh cợ coh ha rêê căh ngai choh cơnh chr’noh rau lơơng. Bêl ơy bấc apêê zươc câl năc pr’loọng amoó lâng đhanuôr coh zr’lụ pa trơơi m’ma choh. Pr’lọong amoó xoọc vêy 3 bhươn bấc 100 t’nơơm t’boon zập ruuh c’moo. Pazêng c’moo đăn đâu, đợ bh’nơơn pa chô zăng tệêm ngăn, pa chô mơ 70 tước 80 ức đồng zập hân noo. Đợ zên nâu zooi pr’loọng vêy pa xoọng pr’đơợ k’rang pr’ặt tr’mông, k’rong bhrợ têng cha lâng k’rang ca coon.
“C’moo đâu, bhươn t’boon âng pr’loọng đong zi căh ơy đoọm lưch, vêy p’lêê đoọm, p’lêê hất, vêy t’nơơm xoọc vaih pô, c’moo đâu năc lêy pêêh pay tước c’xêê 11. Cơnh zập c’moo, zêng 3 bhươn đoọm đh’rưah, pr’loọng zi pa câl vêy pa chô k’nặ 100 ức đồng/hân noo, cơnh bấc đong lơơng năc bấc lâh. Acu lêy, tơơm t’boon vêy pa chô bh’nơơn, zập đong dzợ năc lêy k’rong choh t’bhưah” - Amoó Đới đoọng năl.
P’lêê t’boon vêy đoo ngam, vêy đoo p’lêê doọ lâh k’dzúa; tơơm chr’noh nâu năc đhanuôr k’rang lêy đui cơnh tơơm chr’năp coh crâng, ha rêê tu cơnh đêêc bấc ngai kiêng cha. Lâh mơ pa câl la leh, bấc pr’loọng năc pa câl bấc đoọng ha pêê tước đong k’rong câl lâng chr’năp tơợ 20-25 r’bhầu đồng/kg. Anoo Alăng Do, Trương vel Rơ Rang đoọng năl, prang vel vêy 259 pr’loọng, pa bhlầng năc đhanuôr Cơ Tu, vêy tước 90% vêy choh tơơm t’boon, pazêng đhăm bhưah 45ha. Cơnh lâng pazêng pr’loọng đhăm ga măc, zập hân noo t’boon năc vêy pa chô k’zệt ức đồng, vêy ngai tước k’ha riêng ức đồng, lêy tơợ bh’nơơn pa chô lâng chr’năp pa câl zập c’moo.
“P’lêê t’boon zr’lụ nâu tr’haanh bhlầng năc ngam bấc ngai kiêng câl. Chr’năp pa câl cung dal 35 r’bhầu/kg p’lêê liêm t’crô, 20 r’bhầu đồng/kg cơnh lâng p’lêê t’cr’liêng. Pazêng c’moo vêy boong bấc năc vêy pa chô dal bhlầng tơợ tơơm t’boon. Pazêng c’moo đăn đâu, t’boon xoọc vaih năc muy coh pazêng pr’đơợ bhrợ cha âng đhanuôr Rơ Rang. Cơnh lâng pazêng pr’loọng k’đhap k’ra, đợ zên pa chô tơợ zập hân noo pa câl t’boon năc zooi đhanuôr vêy pr’đơợ pa dưr pr’ặt tr’mông, k’rong b’băn lâng r’dợ pa dưr dal bh’nơơn pr’ặt tr’mông” - Anoo Alăng Do prá p'xoong.
Đhị chr’val da ding ca coong Sông Kôn, đhanuôr Cơ Tu xoọc pa ghit lâh mơ bhiệc k’rang lêy, pa liêm bhươn chr’noh đoọng pa dưr dal chr’năp kinh tế tơợ choh tơơm t’boon. Xăl tu pa dưr tơơm ơy chăt vaih coh crâng, pr’loọng amoó Hồ Thị Lợi ặt vel Ra Đung, chr’val Sông Kôn pa ghit c’nặt k’rang lêy tơợ zập hân noo pêêh pay bh’nơơn. N’đoo đoong đanh năc đh’leh lơi, tơơm căh dzợ c’rơ cung col lơi jưah lâng đêêc năc tal pa sạch bhơi, g’bung tơơm lâng cha mêệt lêy pr’luh.
Amoó Lợi xay moon, bh’nơơn t’booi âng pr’loọng bơơn dal lâh lalăm, dâng 1-2 tạ p’lêê/tơơm/hân noo. C’moo đâu, bhươn t’boon k’nặ 50 t’nơơm zêng boong tráu, amoó dal lêy năc hân noo nâu vêypa chô mơ 50-70 ức đồng lâng chr’năp pa câl đợ bấc 20 r’bhầu đồng/kg cơnh xoọc đâu.
“Lalăm a hay, tơơm t’boon đong zi năc toon chăt vaih coh crâng, bôl ha rêê. Tước hân noo đoọm năc pêêh pay p’lêê cha lâng đoọng ha bhuh xoọng. Coh t’tun đâu lêy apêê pa câl vêy zên năc zi xăl choh t’bấc, k’rang đoọng boong tráu lâh, pa câl bấc zên lâh. Zập hân noo cung pa chô 50-70 ức đồng, bấc lâh lâng tơơm chr’noh lơơng. Đươi pa chô thu nhập nâu năc pr’loọng đong zi vêy zên k’rang pr’ặt tr’mông, câl pr’đươi pr’dua đoọng ca coon học. Nâu năc zên đươi xoọc đương pa câl a’ọc, pa câl keo” - Amoó Hồ Thị Lợi đoọng năl.
Tơợ bh’nơơn xoọc tr’nơợp, chr’val Sông Kôn xoọc pa căh c’lâng bhrợ cha đoọng ha đhanuôr xăl cơnh choh, cơnh k’rang, r’dợ pa dưr dal bh’nơơn âng p’lêê t’boon. Nâu cung năc pr’đơợ đoọng vel đong lêy, chơih pay tơơm chr’noh bha lầng đoọng pa dưr, t’vaih cr’noọ bh’rợ cha liêm choom đoọng ha zập zr’lụ.
Ting cơnh t’cooh Nguyễn Hữu Sanh, Phó Chủ tịch UBND chr’val Sông Kôn, lâng pr’đơợ da ding ca coong, vel đong t’pâh đhanuôr pa dưr zập tơơm cha p’lêê liêm choom, pa chô bh’nơơn kinh tế dal. Cơnh lâng tơơm t’boon xoọc đhanuôr ơy choh pa dưr k’nặ 20ha, pa chô bh’nơơn mơ 10 tấn/ha.
T’cooh Nguyễn Hữu Sanh đoọng năl: “Chr’val Sông Kôn vêy mơ 20ha tơơm t’boon. Cr’chăl nâu, đhanuôr xoọc moọt hân noo pêêh pay bh’nơơn t’boon lâng chr’năp pa câl mơ 30 r’bhầu đồng/kg. Nâu năc tơợ pa chô zên z’zăng đoọng ha đhanuôr. Jưah lâng tơơm t’boon, vel đong t’pâh đhanuôr choh pa dưr bấc tơơ cha p’lêê vêy chr’năp kinh tế dal lâh cơnh: sầu riêng, măng cụt, pih bhung, quýt đường… Bh’rợ đoọng choh t’bấc m’ma cha p’lêê, pa dưr liêm đhăm choh vaih năc pazêng bh’nơơn chr’noh a yêm. Chr’val cung t’bhlầng zooi đhanuôr đăh kỹ thuật choh bhrợ, k’rang lêy; jưah pa căh pr’đươi coh zập nền tảng mạng xã hội, hội chợ, bh’rợ thương mại đoọng pa têệt lâng apêê k’rong câl coh zập đăh k’rong câl, chroi k’rong t’bấc đhị k’rong câl đoọng ha đhanuôr”.
Tơợ muy tơơm cha p’lêê ơy loih lâng đhanuôr da ding ca coong, t’boon năc xoọc bơơn bhrợ têng ting c’lâng liêm choom lâh mơ. Đhơ cơnh đêêc, đoọng p’lêê t’boon lalua dưr vaih năc tơơm hàng hóa tệêm ngăn, lâh mơ pa dưr dal bh’nơơn, rau chr’năp lâh mơ năc đhị pa câl. Bêl đhanuôr vêy cơnh bhrợ têng liêm choom, pr’đươi têệm ngăn lâg vêy rau pa têệt lâng thị trường, chr’năp tơơm t’boon năc bơơn pa dưr dal, t’vaih bh’rợ bhrợ cha đoọng ha đhanuôr da ding ca coong lâng chroi k’rong bhrợ liêm choom bh’rợ pa xiêr đha rựt đanh mâng./.
Đồng bào miền núi Đà Nẵng tăng thu nhập từ cây lòn bon
Những ngày này, người dân ở một số nơi miền núi thành phố Đà Nẵng đang tất bật thu hoạch lòn bon . Với giá bán từ 20 đến 30 nghìn đồng/kg, những vườn lòn bon mang lại khoản thu nhập cao và dần được bà con phát triển.
Khoảng một tháng nay, chị Coor Đới ở thôn Rơ Rang, xã Bến Giằng bận rộn hơn với công việc thu hoạch lòn bon. Ngoài thời gian lên rẫy, chị thường xuyên vào vườn, hái những chùm lòn bon đã chín để bán cho thương lái.
Chị Đới cho biết, trước đây lòn bon chủ yếu mọc tự nhiên trong rừng hoặc trên nương rẫy. Khi thương lái tìm mua ngày càng nhiều, gia đình chị và bà con trong vùng đã nhân rộng diện tích. Gia đình chị hiện có 3 vườn với hơn 100 cây lòn bon ở nhiều lứa tuổi. Những năm gần đây, các vườn cây cho sản lượng khá ổn định, mang về khoảng 70 đến 80 triệu đồng mỗi mùa. Khoản tiền này giúp gia đình có thêm điều kiện trang trải sinh hoạt, đầu tư sản xuất và chăm lo cho con cái.
Năm nay, vườn lòn bon của gia đình chưa chín rộ lắm, quả chín, quả xanh, có cây còn đang ra hoa nữa nên dự tính năm nay sẽ khai thác tận tháng 11. Như mọi năm, cả 3 vườn chín rộ cùng thời điểm, gia đình thu về gần 100 triệu đồng/vụ thôi, nhiều nhà còn nhiều hơn nữa. Tôi thấy, cây lòn bon có hiệu qủa, nhà nào còn đất thì nên mở rộng để trồng” - chị Coor Đới chia sẻ.
Quả lòn bon có vị ngọt thanh, hơi chua nhẹ; cây được bà con chăm sóc theo hướng gần với tự nhiên nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Ngoài bán lẻ, nhiều hộ thường bán sỉ cho thương lái đến tận nhà thu mua với giá từ 20-25 nghìn đồng/kg. Anh Alăng Do, Trưởng thôn Rơ Rang cho biết, cả thôn có 259 hộ, chủ yếu là đồng bào Cơ Tu thì có đến 90% gia đình có vườn lòn bon, tổng diện tích 45 ha. Với những hộ có diện tích lớn, mỗi mùa lòn bon có thể mang lại hàng chục triệu đồng, thậm chí cả trăm triệu đồng, tùy vào năng suất và giá bán mỗi năm.
“Trái lòn bon vùng này nổi tiếng là ngon, ngọt nên được nhiều người tìm mua. Giá bán cũng được, cao cũng được 35 nghìn/kg quả chùm, 20 nghìn đồng/kg quả rời. Những năm được quả, nhiều hộ có nguồn thu nhập rất là cao từ cây lòn bon. Những năm gần đây, lòn bon đang trở thành một trong những nguồn sinh kế của người dân Rơ Rang. Với những hộ khó khăn, khoản tiền thu được sau mỗi mùa quả, giúp bà con có điều kiện cải thiện đời sống, đầu tư chăn nuôi và từng bước cải thiện cuộc sống” - Anh Alăng Do cho biết.
Ở xã miền núi Sông Kôn, bà con Cơ Tu đang chú trọng hơn đến việc chăm sóc, cải tạo vườn cây để nâng năng suất và giá trị kinh tế từ trồng lòn bon. Thay vì để cây phát triển tự nhiên, gia đình chị Hồ Thị Lợi ở thôn Ra Đung, xã Sông Kôn dần chú trọng khâu chăm sóc sau mỗi vụ thu hoạch. Cành già được gia đình chị tỉa bớt, những cây cỗi thì chặt bỏ cùng với đó là phát dọn vệ sinh gốc và theo dõi sâu bệnh. Chị Lợi chia sẻ, năng suất lòn bon của gia đình đạt cao hơn trước, bình quân khoảng 1–2 tạ quả/cây/vụ. Năm nay, vườn lòn bon gần 50 cây đều cho nhiều quả, chị nhẩm tính vụ này có thể thu 50-70 triệu đồng với giá bán sỉ 20 nghìn đồng/kg hiện nay.
“Trước đây, cây lòn bon nhà mình chủ yếu là trồng tự nhiên trên vườn đồi. Tới mùa thu hoạch quả thì hái về ăn, làm quà biếu tặng bà con. Về sau thấy người ta bán có tiền nên mình chuyển sang trồng, chăm sóc để cho quả nhiều hơn, bán có tiền hơn. Mỗi vụ gia đình cũng thu khoảng 50-70 triệu đồng, cao hơn nhiều so với cây trồng khác. Nhờ khoản thu nhập này mà gia đình mình có tiền để chi tiêu, mua sắm vật dụng, cho các con ăn học. Đây là những khoản thường phải chờ bán heo, bán keo mới để chi tiêu” - chị Hồ Thị Lợi cho hay.
Từ hiệu quả bước đầu, xã Sông Kôn đang định hướng người dân thay đổi cách trồng, chăm sóc, từng bước nâng cao chất lượng trái lòn bon. Đây cũng là cơ sở để địa phương định hướng, lựa chọn phát triển cây trồng phù hợp, tạo ra mô hình sản xuất hiệu quả cho từng khu vực. Theo ông Nguyễn Hữu Sanh, Phó Chủ tịch UBND xã Sông Kôn, với lợi thế miền núi, địa phương khuyến khích người dân phát triển các loại cây ăn quả phù hợp, cho hiệu quả kinh tế cao. Riêng với cây lòn bon hiện bà con đã phát triển gần 20 héc ta cây lòn bon, cho năng suất khoảng 10 tấn/ha.
Ông Nguyễn Hữu Sanh cho biết thêm:“Xã Sông Kôn có khoảng 20ha cây lòn bon. Thời điểm này, bà con đang bước vào vụ thu hoạch vườn lòn bon với giá bán bình quân 30 nghìn đồng/kg. Đây là nguồn thu nhập đáng kể trong năm của bà con. Cùng với cây lòn bon, địa phương còn vận động người dân phát triển các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như: sầu riêng, măng cụt, bưởi da xanh, quýt đường… Mục tiêu để đa dạng hóa cây trồng, khai thác tốt đất vườn đồi, hình thành các sản phẩm nông nghiệp. Xã cũng đang tích cực hỗ trợ bà con về kỹ thuật trồng, chăm sóc; đồng thời giới thiệu sản phẩm trên các nền tảng xã hội, hội chợ, sự kiện thương mại để kết nối với thương lái và các kênh tiêu thụ, góp phần giải quyết đầu ra cho sản phẩm”.
Từ một loại cây quen thuộc với người dân miền núi, lòn bon đang được khai thác theo hướng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để lòn bon thực sự trở thành cây hàng hóa ổn định, ngoài nâng năng suất, vấn đề quan trọng vẫn là đầu ra. Khi người dân có quy trình sản xuất phù hợp, sản phẩm bảo đảm chất lượng và có sự kết nối với thị trường, giá trị cây lòn bon sẽ được nâng lên, tạo thêm sinh kế cho người dân miền núi và góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững./.
Viết bình luận