Lêy cha’mêết lấh 1 r’bhâu học sinh tơợ mầm non tước tiểu học âng 3 acoon cóh Mông, Jrai lâng Khmer cóh 3 tỉnh Lào Cai, Gia Lai lâng Trà Vinh, Viện khoa học giáo dục Việt Nam đoọng năl, bhiệc xay bhrợ xa’nay bh’rợ pachoom bơr p’rá đhị pr’đơợ p’rá Việt lâng p’rá acoon cóh đay nắc ơy chrooi pa’xoọng padưr dal chất lượng giáo dục cóh k’coong ch’ngai. Apêê ađhi nắc bơơn padưr liêm choom lấh mơ, cắh mưy ooy đợ môn khoa học tự nhiên, nắc ooy đợ môn học xã hội, lấh mơ nắc môn Tiếng Việt. đợ mơ apêê ra’pặ lọai khá giỏ âng học sinh ooy bơr prá dal lấh mơ lâng học sinh cắh vêy học. Ađhi Vàng Thị Liên, acoon cóh Mông, học sinh Trường Tiểu học Bản Phố, chr’hoong Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đoọng năl: “Tơợ lớp 1 tước lớp 5, acu nắc zêng bơơn học sinh giỏi. hân đhơ c’moo đâu acu bơơn dzoọc cấp 2, cắh bơơn pachoom bơr p’rá dzợ, hân đhơ cơnh đêếc nắc đợ râu âng cu ơy pachoom ooy tiểu học nắc zúp đoọng ha cu bấc râu. Đợ bài toán k’đhạp, cắh choom bhrợ, acu nắc choom ta’moóh pr’zợc lâng p’rá acoon cóh đay.”
![]()
C’lâng bh’rợ p’too pachoom bơr p’rá bơơn zâp trường bhrợ têng pachoom p’rá acoon cóh nắc đoo l’lăm, p’rá Việt nắc thứ 2. Bhiệc prá xay bơr p’rá liêm choom, p’rá acoon cóh đay nắc buôn zooi zúp đoọng ha p’rá Việt ooy cr’chăl pachoom học zúp học sinh năl gít lấh mơ zâp khái niệm, thuật ngữ k’đhạp cóh bài. Cr’chăl t’ngay pachoom prá 2 p’rá cung tr’xăl ting khối lớp. tước lớp 3, bêl đhr’năng pachoom đọc năl p’rá Việt nắc ơy padưr dal, học sinh choom prá xay cr’noọ âng đay lâng 2 p’rá. Râu zooi zúp tự nhiên âng 2 p’rá nắc zúp đoọng ha đhr’năng bh’rợ âng apêê ađhi bơơn năl gít c’năl bh’rợ lâng nắc t’bhlâng lêy pachoom lấh mơ. T’coóh Nguyễn Trọng Ngoạn, Hiệu trưởng Trường Tiểu học IaPhí, chr’hoong ChưPah, tỉnh Gia Lai đoọng năl: “Đắh bh’rợ trường lớp học sinh, ruúh tr’nơợp pazêng 28 cha’nặc lâng ruúh 2 nắc vêy 27 cha’nặc. đắh chất lượng, ruúh tr’nơợp xay moon ting cơnh cr’liêng xa’nay thông tư 32 xang bêl tết mưy c’moo học nắc 100% học sinh ra’pặ tơợ loại trung bình nắc a’tếh ooy đâu học sinh khá giỏi k’noọ 70% đắh bhiệc ra’pặ giáo dục. đắh ruúh 2, azi nắc xay moon ting cơnh thông tư 30 c’moo 2014 âng Bộ Giáo dục điểm tơợ 5 nắc a’tếh nắc 100%, ooy đâu học sinh bơơn điểm tơợ 7 nắc a’tếh k’noọ 70% lâng 100% học sinh xang bơr ruúh nắc pachoom xang xa’nay bh’rợ tiểu học. zâp ngai ađhi nắc bơơn t’moót ooy trường phổ thông acoon cóh nội trú zêng lêy cóh lớp bơr p’rá nâu.”
Ting cơnh zâp giáo viên, bhiệc xay bhrợ pachoom bơr p’rá bhrợ padưr môi trường sư phạm liêm chr’nắp lấh. hadang cắh năl liêm gít bài cắh cậ dzợ k’pân k’chít pấh bhrợ ooy bh’rợ zr’nưm nắc zâp apêê ađhi choom prá pa’glúh p’cắh cr’noọ bh’rợ âng đay lâng p’rá acoon cóh lâng thầy cô giáo. Tơợ đêếc, bhrợ padưr hơnh déh đoọng ha pêê ađhi chắp kiêng bêl tước ooy trường, bhui har chi’ớh lâng pr’zợc, thầy cô. T’coóh Hà Đức Đà, Giám đốc trung tâm Lêy cha’mêết Giáo dục acoon cóh đoọng năl: “Bh’nơơn zâp bài lêy cha’mêết zâp học sinh prá bơr p’rá bêl dưr dzoọc lớp học dal lấh nắc vêy điểm dal lấh mơ. Bhiệc âng zâp tỉnh zr’lụ acoon cóh taluôn lưm zr’nắh k’đhạp đắh đợ mơ xăl cấp tơợ tiểu học dzoọc THCS, tơợ THCS dzoỌc THPT nắc đợ mơ xăl cấp âng học sinh bơơn 100%. Đợ mơ chuyên cần liêm dal lâng lưu ban, lơi học zêng lêy cắh vêy. Học sinh pachoom bơr p’rá lâng cấp học t’mêê mưy cơnh tự tin lâng liêm choom.”
Cr’chăl nâu a’tốh, ngành giáo dục nắc xrặ bhrợ lâng p’cắh tài liệu thử nghiệm xa’nay bh’rợ padưr dal chất lượng bhrợ têng p’too pachoom bơr p’rá lêy đhị p’rá acoon cóh đoọng học sinh acoon cóh. Tơợ đêếc, nắc bhrợ têng zâp lớp pachoom đoọng ha c’bhúh cán bộ, giáo viên bơơn pa’đăn lâng bhrợ têng c’lâng bh’rợ p’too pachoom ting c’lâng bh’rợ t’mêê. liêm glặp cơnh lâng cr’noọ bh’rợ âng apêê p’niên acoon cóh… Zấp vel đông cung bơơn đoọng pr’đươi pachoom học, chr’ớh, học liệu phần mềm pachoom p’rá Việt liêm glặp đoọng ha zâp trường mầm non, tiểu học cóh zâp chr’val zr’nắh k’đhạp… P’căn Nguyễn Thị Hiếu, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non, Bộ giáo dục lâng đào tạo đoọng năl: “Bộ pazưm lâng zâp Bộ ngành Trung ương bhrợ têng xrặ lêy tài liệu nguồn đoọng liêm glặp lâng zr’lụ miền, pachoom đoọng ha c’bhúh cán bộ k’đhơợng zư, giáo viên đắh cr’liêng xa’nay pachoom p’rá Việt, c’lâng bh’rợ pachoom p’rá Việt liêm glặp lâng p’niên manứih acoon cóh, xrặ bhrợ lâng pachoom tài liệu đoọng ha k’conh k’căn, zooi zúp k’căn k’conh bhrợ padưr môi trường prá xay p’rá Việt đhị pr’loọng đông lâng đhanuôr. Zooi zúp kỹ thuật đoọng ha zâp zr’lụ zr’nắh k’đhạp, bhrợ padưr phần mềm pachoom p’rá Việt lâng bản đồ p’rá zâp acoon cóh.”
Đhị râu k’đươi moon xăl t’mêê giáo dục, giáo dục bơr p’rá đhị pr’đơợ p’rá k’căn nắc đoo c’lâng bh’rợ đoọng padưr paliêm chất lượng p’too pachoom zr’lụ đhanuôr acoon cóh, chrooi pa’xoọng zư lêy padưr pa’xớc p’rá lâng văn hoá zâp acoon cóh. Tu cơnh đâu, bhiệc t’bhlâng xay bhrợ xa’nay bh’rợ p’too pachoom bơr p’rá cóh zâp vel đông nắc chrooi pa’xoọng bhrợ têng liêm choom bh’rợ tr’nêng liêm choom xăl t’mêê đắh p’too pachoom cóh zr’lụ đhanuôr acoon cóh./.
GIÁO DỤC SONG NGỮ:
HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ THÍCH ĐẾN TRƯỜNG HỌC
(Thu Hiền)
Học sinh dân tộc thiểu số chưa thông thạo Tiếng Việt là rào cản rất lớn trong quá trình triển khai thực hiện phổ cập giáo dục của nước ta. Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thí điểm việc áp dụng giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại một số trường học sinh dân tộc thiểu số trong mấy năm qua cho thấy chất lượng giáo dục được cải thiện rõ rệt. Học sinh tiếp thu nhanh kiến thức, mạnh dạn và tự tin hơn, tạo sự hứng khởi khi đến trường.
Khảo sát hơn 1 nghìn học sinh từ mầm non đến tiểu học của 3 dân tộc Mông, Jrai và Khmer ở 3 tỉnh Lào Cai, Gia Lai và Trà Vinh, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cho biết, việc triển khai chương trình giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt-Tiếng dân tộc thiểu số) đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa. Các em đạt được tiến bộ không chỉ ở những môn khoa học tự nhiên, mà cả ở những môn khoa học xã hội, nhất là môn Tiếng Việt. Tỷ lệ xếp loại khá giỏi của học sinh học song ngữ cao hơn hẳn so với học sinh không học. Em Vàng Thị Liên, dân tộc Mông, học sinh Trường Tiểu học Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai cho biết: “Từ lớp 1 đến lớp 5, em đều đạt học sinh giỏi. Mặc dù năm nay em đã được chuyển lên cấp hai, không còn được học song ngữ nữa nhưng những kiến thức đã được học ở tiểu học đã giúp ích cho em rất nhiều. Những bài Toán khó, không thể giải được, em có thể hỏi han các bạn bằng ngôn ngữ của mình.”
Phương pháp giáo dục song ngữ được các trường tổ chức dạy tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai. Việc sử dụng hai ngôn ngữ linh hoạt, tiếng mẹ đẻ luôn hỗ trợ cho tiếng Việt trong quá trình dạy học giúp học sinh hiểu được các khái niệm, thuật ngữ khó trong bài. Thời lượng sử dụng mỗi ngôn ngữ cũng thay đổi theo từng khối lớp. Đến lớp 3, khi năng lực đọc hiểu tiếng Việt đã được nâng cao, học sinh có thể diễn đạt suy nghĩ của mình bằng 2 ngôn ngữ. Sự tác động hỗ trợ tự nhiên giữa 2 ngôn ngữ giúp cho năng lực các em tiếp thu được kiến thức và tiếp tục học lên cao với kết quả cao. Ông Nguyễn Trọng Ngoạn, Hiệu trưởng Trường Tiểu học IaPhí, huyện ChưPah, tỉnh Gia Lai cho biết: “Về quy mô trường lớp học sinh, lứa thứ nhất gồm 28 em và lứa thứ hai có 27 em. Về chất lượng, lứa thứ nhất đánh giá theo thông tư 32 sau khi hết một năm học thì 100% học sinh xếp loại từ trung bình trở lên trong đó học sinh khá giỏi chiếm gần 70% về xếp loại giáo dục. Về lứa thứ hai, chúng tôi đánh giá theo thông tư 30 năm 2014 của Bộ Giáo dục điểm từ 5 trở lên là 100%, trong đó học sinh đạt điểm từ 7 trở lên gần 70% và 100% học sinh qua hai lứa hoàn thành chương trình tiểu học. Tất cả những em được khi được xét vào trường phổ thông dân tộc nội trú hầu như đều ở những lớp song ngữ này.”
Theo các giáo viên, việc triển khai dạy học song ngữ tạo môi trường sư phạm thân thiện, cởi mở. Nếu chưa hiểu bài hoặc còn e ngại tham gia trong hoạt động tập thể thì các em có thể diễn đạt được suy nghĩ củng mình bằng tiếng mẹ đẻ với thầy cô giáo. Từ đó, tạo sự hứng khởi cho các em thích thú mỗi khi đến trường, vui chơi cùng bạn bè và thầy cô giáo. Ông Hà Đức Đà, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Dân tộc cho biết: “Kết quả các bài kiểm tra đối tượng học sinh song ngữ khi tiếp lên các lớp học cao hơn có điểm khá giỏi cao hơn. Vấn đề mà các tỉnh vùng dân tộc miền núi luôn gặp khó khăn về tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu học lên THCS, từ THCS lên THPT thì tỷ lệ chuyển cấp của học sinh song ngữ luôn đạt 100%. Tỷ lệ chuyên cần rất cao và lưu ban, bỏ học hầu như không có. Học sinh song ngữ hòa nhập với cấp học mới một cách tự tin và năng động .”
Thời gian tới, ngành giáo dục tiếp tục biên soạn và phổ biến tài liệu thử nghiệm chương trình nâng cao thực hành giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ cho học sinh dân tộc thiểu số. Từ đó, sẽ tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên được tiếp cận và thực hiện phương pháp giáo dục mới, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em dân tộc thiểu số ...Các địa phương cũng sẽ được cung cấp thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, học liệu phần mềm dạy học tiếng Việt phù hợp cho tất cả các trường mầm non, tiểu học ở các xã khó khăn... Bà Nguyễn Thị Hiếu, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: “Bộ phối hợp với các Bộ ngành Trung ương tổ chức biên soạn tài liệu nguồn để phù hợp với vùng miền; tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về nội dung kỹ năng phương pháp tăng cường tiếng Việt, phương pháp dạy tiếng Việt phù hợp với trẻ em người dân tộc thiểu số; biên soạn và và tập huấn tài liệu dành cho cha mẹ trẻ; hỗ trợ cha mẹ xây dựng môi trường giao tiếp tiếng Việt tại gia đình và cộng đồng. Hỗ trợ kỹ thuật cho các vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn; xây dựng phần mềm dạy học Tiếng Việt và bản đồ ngôn ngữ các dân tộc thiểu số.”
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ là một giải pháp để cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn, phát huy, phát triển ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc. Do đó, việc tăng cường triển khai chương trình giáo dục song ngữ ở các địa phương sẽ góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số./.
Viết bình luận