Padưr dal đợ mơ đác cha’ngaách vel bhươl đoọng tr’xăl bhiệc đươi dua.
Thứ hai, 00:00, 04/07/2016

Padưr dal đợ mơ đác cha’ngaách vel bhươl đoọng tr’xăl bhiệc đươi dua.

     Padưr cơ chế chính sách t’pấh âng zâp thành phần kinh tế, lấh mơ nắc zr’lụ tư nhân xoọc nặc bhiệc pr’hân đắh xay bhrợ xa’nay bh’rợ đác cha’ngaách vệ sinh môi trường vel bhươl. Ting cơnh zâp chuyên gia, đoọng lêy chô tước cr’noọ bh’rợ moót c’moo 2020 vêy 90% đhanuôr cóh vel bhươl nắc bơơn đươi dua đác cha’ngaách ting cơnh quy chuẩn VN, 50% đợ chr’val bơơn chuẩn vel bhươl t’mêê lêy tr’xăl cr’noọ bh’rợ lâng bhiệc pa’đăn đươi ooy cr’chăl xay bhrợ.

   Hân đhơ bơơn bấc râu tr’xăl liêm choom nắc ooy cr’chăl xay bhrợ xa’nay bh’rợ đác cha’ngaách vệ sinh môi trường vel bhươl dzợ n’léh váih bấc râu cắh liêm choom. Prang k’tiếc k’ruung xoọc đâu vêy 2/3 xa’nay bh’rợ âng đơ ơng đác pazưm zr’lụ vel bhươl ooy pazêng 12 r’bhâu 600 xa’nay bh’rợ bhrợ têng liêm choom, ooy pazêng 86% đhanuôr cóh vel đông đươi dua đác liêm sạch nắc k’noọ m’pâng ooy đâu bơơn đươi dua đác cha’ngaách ting cơnh quy chuẩn VN âng bộ y tế…

Ting cơnh t’coóh Lê Thiếu Sơn, GĐ trung tâm quốc gia đác cha’ngaách vệ sinh môi trường vel bhươl, Bộ nông nghiệp lâng padưr pa’xớc vel bhươl, đhr’năng k’đhơợng zư điều hành zâp cấp, lấh mơ cóh 2, 3 vel đông nắc dzợ bấc cắh liêm choom, bhrợ pa’xiêr râu liêm choom bhrợ têng zâp chính sách âng chính phủ. Zâp cơ chế chính sách cắh ơy t’pấh bấc râu pấh bhrợ âng zâp đắh kinh tế, ooy đâu vêy zr’lụ tư nhân, bhrợ cắh đấh xa’nay bh’rợ xã hội hoá: “Zâp đơn vị crêê tước, lấh mơ nắc cấp sở nông nghiệp lâng padưr pa’xớc vel bhươl nắc lêy vêy c’lâng moon pachoom liêm gít, quy định c’lâng bh’rợ đợ bhr’dzang lướt lâng pa’xiêr bh’rợ hành chính đoọng zâp thành phần kinh tế cắh mưy bơơn năl, nắc dzợ lêy bêl pấh bhrợ k’rong nắc bơơn bhrợ zâp pr’đơợ liêm buôn. Cr’chăl nâu, zâp cơ quan k’đhơợng zư nhà nước lâng trung tâm đác cha’ngaách vệ sinh môi trường zâp tỉnh lêy t’bhlâng zooi zúp kỹ thuật đoọng zr’lụ tư nhân năl gít lâng k’đhơợng zư bhrợ têng, lấh mơ nắc zooi zúp zên nắc vêy choom xay bhrợ.”

   Tơợp dưr tơợ râu lalua xay bhrợ đhị vel đông, t’coóh Trần Ngọc Hiểu, GĐ trung tâm đác cha’ngaách lâng vệ sinh môi trường vel bhươl tỉnh Nam Định moon, đoọng bơơn mơ cr’noọ bh’rợ c’moo 2016 dưr dzoọc lấh 9% đợ mơ dân số vel bhươl đươi dua đác cha’ngaách, lâng zên vốn k’rong bhrợ lấh 370 tỷ đồng, đh’rứah lâng râu zooi zúp đắh TW, tỉnh nắc ơy bhrợ padưr âng đơơng đác cha’ngaách vel bhươl tỉnh Nam Định tước c’moo 2020, lêy chô tước c’moo 2030 đhị pr’đơợ tr’xăl plêệng k’tiếc. ting đếêc, pazưm t’đang k’đươi k’rong bhrợ cóh cr’loọng k’tiếc k’ruung lâng quốc tế ting bh’rợ Công-Tư. T’coóh Trần Ngọc Hiểu đoọng năl: “Tơợ c’moo 2016 nắc a’tếh, xa’nay bhrợ đác cha’ngaách vệ sinh môi trường vel bhươl pazưm ooy xa’nay bh’rợ k’tiếc k’ruung bhrợ padưr vel bhươl t’mêê vêy bấc đắh bh’rợ lâng lêy bhrợ, hadợ manứih đắh TW lâng cấp tỉnh cắh bấc. đoọng bhrợ đác cha’ngaách nắc lêy vêy zên cơnh đêếc nắc Nam Định pazưm padưr k’rơ t’pấh zr’lụ tư nhân, lêy cha’mêết ooy bh’rợ Công-Tư. Ting đêếc, azi nắc lêy bhrợ bh’rợ âng đơơng đác liên xã đhị chr’val Trung Đông, chr’hoong Trực Ninh, lâng chr’val Nam Thanh-Nam Hải, chr’hoong Nam Trực.”

    Ting cơnh thứ trưởng Bộ nông nghiệp lâng padưr pa’xớc vel bhươl Hoàng Văn Thắng, ooy cr’chăl xay bhrợ zâp cơ chế chính sách t’pấh zâp thành phssnf kinh tế pấh bhrợ, lâng padưr đươi dua khoa học công nghệ lâng t’bhlâng pazưm bhrợ quốc tế đắh bh’rợ đác cha’ngaách. Ooy đâu, nắc lêy xăl bhiệc pa’đăn, pay đhanuôr bhrợ bha’lâng đắh chấc lêy cha’mêết, bhrợ padưr c’lâng bh’rợ lâng padưr zâp dịch vụ công ting cơ chế thị treường, tơợp dưr đắh cr’noọ bh’rợ lalua âng đhanuôr: “Bhiệc bhrợ lêy lalay, tơợ bêl lêy pay dự án nắc đhanuôr lêy năl, vêy cơnh p’rá zr’nưm âng apêê lâng xang nặc ooy cr’chăl bhrợ lêy bhrợ chủ thể đoọng bhrợ têng, nâu đoo nắc lâng hệ thống pậ lêy khuyến khích zr’lụ doanh nghiệp, bhrợ padưr thị trường đác cha’ngaách laliêm. Ooy đâu zâp bh’rợ nhà nước cơnh zên đác lêy liêm glặp lâng zooi zúp apêê đha’rứt. n’jứah têêm ngăn pr’ắt tr’mung xã hội hân đhơ cơnh đêếc cung lêy têêm ngăn padưr zr’lụ k’rong bhrợ đoọng âng đơơng zâp dịch vụ công. Nắc lêy bhrợ liêm ma mơ 2 c’lâng bh’rợ.”

   Đác cha’ngaách nắc mưy ooy đợ cr’noọ bh’rợ đươi dua ooy pr’ắt tr’mung zâp t’ngay âng acoon manứih, n’jứah pazưm lâng pr’ắt tr’mung âng zâp ngai đhanuôr vel bhươl. Tu cơnh đâu, bhiệc padưr dal đợ mơ đhanuôr cóh vel bhươl đươi dua đác cha’ngaách chr’nắp bhlâng, pazưm lâng bhiệc bhrợ têng xa’nay bh’rợ k’tiếc k’ruung bhrợ padưr vel bhươl t’mêê, zêl cha’groong tr’xăl plêệng k’tiếc xoọc đâu.

 

Nâng cao tỷ lệ nước sạch nông thôn cần thay đổi cách tiếp cận

(Minh Long)

          Thúc đẩy cơ chế chính sách thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân đang là vấn đề cấp thiết trong triển khai Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn. Theo các chuyên gia, để hướng đến mục tiêu vào năm 2020 có 90% cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn Việt Nam; 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới cần thay đổi nhận thức và cách tiếp cận trong quá trình triển khai.

           Mặc dù đạt được nhiều chuyển biến tích cực nhưng trong quá trình triển khai Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Cả nước hiện chỉ có 2/3 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn trong tổng số 12 nghìn 600 công trình hoạt động hiệu quả; trong số 86% cư dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh thì gần 1/2 trong số đó được sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn Việt Nam của Bộ Y tế….

          Theo ông Lê Thiếu Sơn, Giám đốc Trung tâm Quốc gia nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năng lực quản lý điều hành ở các cấp, đặc biệt ở một số địa phương còn hạn chế, làm giảm hiệu lực và hiệu quả thực hiện các chính sách của Chính phủ. Các cơ chế chính sách chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực tư nhân, làm chậm tiến trình xã hội hóa: “Các đơn vị liên quan đặc biệt là ở cấp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải có hướng dẫn cụ thể, quy định cách thức những bước đi và giảm bớt thủ tục hành chính để các thành phần kinh tế không những biết mà người ta phải thấy rằng khi cùng tham gia đầu tư thì được tạo mọi điều kiện thuận lợi. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước và Trung tâm nước sạch vệ sinh môi trường các tỉnh phải hỗ trợ kỹ thuật để khu vực tư nhân nắm bắt và quản lý khi vận hành, thậm chí có thể hỗ trợ tài chính lúc mới triển khai.” ông Lê Thiếu Sơn nói.

          Xuất phát từ thực tiễn triển khai tại địa phương, ông Trần Ngọc Hiểu, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Nam Định chia sẻ, để đạt mục tiêu năm 2016 tăng hơn 9% tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch, với nguồn vốn đầu tư hơn 370 tỉ đồng, cùng với hỗ trợ từ phía Trung ương, tỉnh đã xây dựng “Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu”. Theo đó, tập trung kêu gọi các nguồn lực đầu tư trong nước và quốc tế theo mô hình Công – Tư(PPP). Ông Trần Ngọc Hiểu cho biết: “Từ năm 2016 trở đi Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn lồng ghép trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có rất nhiều lĩnh vực và việc phải làm trong khi nguồn lực của Trung ương và cấp tỉnh còn hạn chế. Để làm nước sạch cần vốn như vậy thì Nam Định tập trung đẩy mạnh thu hút khu vực tư nhân, thông qua theo hình thức đối tác Công – Tư (PPP). Theo đó, chúng tôi thí điểm triển khai “mô hình cấp nước liên xã” tại xã Trung Đông huyện Trực Ninh và xã Nam Thanh – Nam Hải, huyện Nam Trực.”

          Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng, trong quá trình triển khai phải hoàn thiện các cơ chế chính sách trong thu hút các thành phần kinh tế tham gia, đồng thời thúc đẩy áp dụng khoa học công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nước sạch. Trong đó, cần phải thay đổi cách tiếp cận, lấy người dân làm chủ thể trong rà soát, xây dựng quy hoạch và thúc đẩy các dịch vụ công theo cơ chế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân: “Cách làm phải khác, từ lúc lựa chọn dự án thì người dân phải biết, phải có tiếng nói của họ và sau đó trong quá trình làm người dân phải là chủ thể để thực hiện, đó là đối với những hệ thống nước sạch quy mô nhỏ, quy mô cộng đồng. Đối với những hệ thống lớn phải khuyến khích khu vực doanh nghiệp, hình thành thị trường nước sạch minh bạch. Trong đó các công cụ nhà nước như: giá nước phải hợp lý cộng với hỗ trợ cho đối tượng người nghèo. Vừa đảm bảo an sinh xã hội nhưng cũng phải đảm bảo thúc đẩy khu vực tư để cung cấp các dịch vụ công. Phải tiến hành đồng bộ 2 giải pháp.”

          Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư nông thôn. Vì vậy, việc nâng cao tỷ lệ cư dân nông thôn sử dụng nước sạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng gắn liền với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, ứng phó biến đổi khí hậu hiện nay./.

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC