Pr’đươi ty đanh nắc bhrợ pa dưr đoọng ha t’nơớt chuyên nghiệp
Thứ ba, 00:00, 06/12/2016

 

    Pazêng rau t’nơớt âng 53 c’bhúh acoon cóh âng k’tiếc k’ruung hêê nắc xay p’cắh rau bấc ơl lâng chr’nắp pr’hay âng pazêng c’bhúh acoon cóh cóh xa nay bh’rợ zazum ooy văn hoá Việt Nam. Cóh c’xêê c’moo ting ắt đh’rứah, giao lưu văn hoá, kiêng vêy muy bh’rợ nghệ thuật chr’nắp pr’hay, crêê cơnh cr’noọ xa nay ting ắt đh’rứah ting n’nắc dợ zư đớc rau chr’nắp pr’hay âng ty đanh nắc rau pr’đươi chr’nắp pa bhlâng nắc đơớh vêy ng’zư lêy lâng đươi dua crêê cơnh, đươi dua ha bh’rợ bhrợ t’váih rau t’mêê âng apêê nghệ sĩ, bhrợ t’váih rau chr’nắp pr’hay t’mêê đoọng ha nghệ thuật t’nơớt.

    La lay cơnh lâng cr’noọ bh’rợ cóh nghệ thuật t’nơớt chuyên nghiệp lấh m’pâng thế kỷ ahay, 2/3 đợ rau t’nơớt liêm choom nắc lứch tơợ pr’đươi ty đanh. Rau la liêm pr’hay nắc rau bha lâng đoọng ha apêê bhrợ t’váih rau t’nơớt âng bấc lang. Manuýh l’lăm cóh bh’rợ đươi dua pr’đươi n’nâu nắc manuýh pa choom t’nơớt Hoàng Châu, bêl a đoo pazum crêê cơnh bhlưa t’nơớt ty đanh âng Thái lâng rau t’nơớt cóh t’mêê cóh bh’rợ t’nơớt: Tây Bắc bhui har. Xang n’nắc nắc manuýh pa choom t’nơớt Phùng Nhạn lâng đợ bh’rợ t’nơớt nắc: a chim gâu, đươi tơợ rau y’nơớt ty đanh âng đhanuôr Sán Chay; NSND Lê Ngọc Canh lâng đợ bh’rợ t’nơớt: đương dzếch tr’ang p’răng, tơợ pr’đươi t’nơớt âng đhanuôr Tày, t’nơơm pô tơợ rau t’nơớy Chơro, xa nul âng crâng k’coong tơợ rau t’nơớt âng đhanuôr S’tiêng; nghệ sĩ Đặng Hùng đh’rứah lâng bh’rợ t’nơớt: chr’đhí Chăm, Cr’noọ cr’niêng, ch’gâr Paranưng nắc lứch đươi ooy đợ rau t’nơớt âng đhanuôr CHăm… NSND Lê Ngọc Canh prá: “T’nơớt ty đanh nắc rau riáh âng rau bhrợ t’váih đợ rau t’mêê nắc rau bhrợ t’váih rau xa nay bh’rợ t’mêê, nắc rau cr’noọ xa nay la liêm pr’hay, nắc rau đoọng pa dưr, bh’rợ đoọng xay p’cắh đợ rau xa nay cóh t’nơớt. Bơơn n’năl đợ rau chr’nắp pr’hay âng đhanuôr acoon cóh, rau đơ gít cóh văn hoá, âng đhanuôr acoon cóh, nắc t’nơớt n’nắc nắc ắt đhậu  cóh bh’rợ t’nơớt. Ng’moon cơnh buôn pa bhlâng nắc t’nơớt ty đanh âng đhanuôr acoon cóh nắc rau bha lâng âng pazêng bh’rợ t’nơớt chuyên ng                    

    Pazêng rau bhiệc bhan ty đanh cơnh, bh’rợ đoọng sắc âng đhanuôr Dao, bh’rợ bhuốih boo âng đhanuôr Mơ nông, S’tiêng, bh’rợ bhuốih chiing âng manuýh Châu Ro, bhiệc bhan Katê âng đhanuôr Chăm… nắc lứch đợ rau pr’đươi chr’nắp pa bhlâng, bhrợ t’váih rau pr’đươi đoọng ha pazêng apêê pa choom t’nơớt lêy pay, chêếc lêy đợ rau xa nay t’mêê đoọng ha bh’nơơn bh’rợ âng đay. Pazêng rau lang bh’lêê bh’la âng pazêng đhanuôr Tây Nguyên, tranh ty đanh Đông Hồ, đợ rau tr’ngâl vêy ta coóch boÓc ty đanh… nắc pr’đươi xoọc đương apêê pa choom t’nơớt đươi dua lâng bhrợ t’váih rau xa nay t’mêê đoọng ha nghệ thuật t’nơớt. Cóh lịch sử âng ngành t’nơớt Việt Nam nắc ơy vêy bấc apêê pa choom t’nơớt liêm choom bêl đươi dua pazêng pr’đươi n’nâu, cơnh: n’năng a chim mặt pleng âng NSND Thái Ly, đợ rau xa nay tơợ pazêng rau tr’ngâl ty âng NSND Ứng Duy Thịnh pa choom, t’nơớt pô ba chớh âng NSND Minh Tiến… ơa choom t’nơớt Thái Phbiên prá: “Bêl ahay manuýh Thái t’nơớt xoè nắc tr’xin lâng acọ ta luôn ch’ngọp ooy k’tiếc. Tu t’nơớt xoè nắc âng bhua bhươl cr’noon, âng bhua chr’hoong cắh pân ta ling mặt lêy, ha dợ tước ooy t’nơớt chuyên nghiệp cóh c’xêê c’moo t’mêê cơnh t’nơớt pô ba chớh âng n’crool NSND Minh Tiến nắc apêê pân đil t’nơớt bhui har lâng líp pô nắc vêy ta đhêr, xay moon đhanuôr Thái Tây Bắc t’mêê vêy ta giải phóng, bhui har ta ling lêy đương hơnh déh tr’cláh tr’ang, chr’nắp pr’hay âng cách mạng. Rau đêếc nắc rau âng đhanuôr cóh t’mêê xoọc đâu.”

                        

    Rau pay đươi lâng pa dưr xa nay, pr’đươi ty đanh âng pazêng đhanuôr acoon cóh cắh muy cóh bh’rợ t’nơớt ếp ting n’nắc nắc vêy apêê pa choom t’nơớt đươi dua crêê cơnh, chr’nắp pr’hay ooy nghệ thuật cóh pazêng bh’rợ thơ t’nơớt, kịch t’nơớt. Liêm choom bhlâng nắc kịch t’nơớt: Ngọc trai bhrôông âng NSND Việt Cường, k’tiếc k’ruung âng Ứng Duy Thịnh, tr’clá tr’ang âng NSND Anh Phương… nắc vêy ta xay p’cắh lâng đợ rau xa nay t’nơớt t’mêê, ha dợ pr’đơợ nắc đợ rau chr’nắp pr’hay tơợ t’nơớt ty đanh âng đhanuôr acoon cóh, xay p’cắh gít bh’rợ chêếc lêy n’năl, xăl t’mêê. Apêê pa choom ơy pa zum cr’noọ xa nay liêm crêê âng đhanuôr acoon cóh ooy rau xa nay âng c’xêê c’moo t’mêê đoọng bhrợ t’váih đợ bh’rợ t’nơớt t’mêê chr’nắp liêm, bhrợ crêê cơnh cr’noọ lêy n’năl âng manuýh lêy cóh nâu cơy. NSUT Nguyễn Vũ Lân prá: “Đăn đâu vêy muy rau bh’rợ nắc bhrợ bấc apêê pa choom t’nơớt đươi dua, rau đêếc nắc pazum đợ rau t’nơớt ty đanh, âng đhanuôr acoon cóh lâng rau bhrợ t’nơớt t’mêê. Ha dang n’năl cơnh đươi dua nắc liêm choom pa bhlâng, ha dợ đoọng choom pazum đh’rứah lâng cơnh t’nơớt t’mêê nắc manuýh pa choom n’năl gít j’niêng cr’bưn, cr’noọ cr’niêng âng đhanuôr acoon cóh âng đay xoọc pay đươi.”

                         

    Pr’đươi t’nơớt ty đanh âng đhanuôr acoon cóh vêy cóh pazêng rau t’nơớt chuyên nghiệp cóh bấc cơnh. Ha dang cóh apêê c’moo 50, 60 thế kỷ ahay, apêê pa choom t’nơớt đươi zêng pazêng cơnh t’nơớt âng ty đanh, nắc nâu cơy apêê pa choom ơy ra lóc pay đợ ray la lau cóh pazêng rau t’nơớt âng pazêng c’bhúh đhanuôr acoon cóh đoọng t’mót ooy bh’rợ âng đay. Đươi dua rau t’béch g’lăng cóh bh’rợ bhrợ t’mêê đợ pr’đươi ơy vêy nắc dưr váih xa nay t’nơớt t’mêê. Dal lấh mơ dợ, cóh bấc bh’rợ t’nơớt, manuýh lêy cắh bơơn lêy đợ p’gớt, pr’đươi t’nơớt ty đanh âng đhanuôr acoon cóh n’nắc. Ting cơnh NSND Ứng Duy Thịnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ t’nơớt Việt Nam, rau đêếc nắc xay p’cắh manuýh pa choom t’nơớt ơy n’năl gít văn hoá âng đhanuôr acoon cóh: “Pazêng rau pr’đươi t’nơớt ty đanh, đhanuôr acoon cóh nắc vêy ta pazum lâng bấc rau la lay, cơnh tr’coọ xa nul, xa nâp, manuýh acoon cóh… xa nay n’nắc u váih cóh ooy, lâng đợ lang manuýh hân đoo, j’niêng cr’bưn hân đoo… nắc zazum cơnh đêếc nắc vêy choom bhrợ t’váih muy bh’rợ t’nơớt vêy chr’nắp ooy nghệ thuật, choom p’gít pazêng rau chr’nắp pr’hay. Nắc ng’choom moon, tơợ cr’noọ âng đay nắc bhrợ t’váih rau boóp p’rá thứ 3, rau đêếc nắc nắc boóp p’rá cóh bh’nơơn bh’rợ, nắc choom xay moon gít zr’lụ riáh, rau chr’nắp pr’hay, cr’noọ cr’niêng âng đhanuôr acoon cóh.”

    Nắc ng’choom lêy, đợ rau chr’nắp pr’hay pa bhlâng âng văn hoá ty danh âng pazêng c’bhúh acoon cóh nắc rau bha lâng đoọng bhrợ t’váih đợ xa nay bh’rợ, đoọng apêê pa choom t’nơớt choom đươi dua lâng pa têết pa dưr, bhrợ t’váih đợ rau t’nơớt t’mêê, vêy chr’nắp ooy nghệ thuật bấc, bhrợ t’váih t’bấc ooy bh’rợ nghệ thuật t’nơớt Việt Nam. Tu kiêng zư lêy rau chr’nắp pr’hay âng đhanuôr acoon cóh cóh bh’rợ t’nơớt nắc apêê nghệ sĩ nắc n’năl đớc rau t’béch g’lăng âng đay đhị pr’đơợ âng t’nơớt ty đanh, xay p’cắh rau la lay âng j’niêng cr’bưn, cr’noọ xa nay, pr’ắt bh’rợ, tín ngưỡng tôn giáo… âng pazêng c’bhúh acoon cóh, đh’rứah lâng rau đươi crêê cơnh, lêy pay đợ rau chr’nắp pr’hay bhlâng cóh nghệ thuật t’nơớt âng pazêng c’bhúh acoon cóh cóh bha lang k’tiếc./.

                        

 

CHẤT LIỆU DÂN GIAN CHẮP CÁNH CHO MÚA CHUYÊN NGHIỆP

                                                                                                PV Ngọc Ngà

      Kho tàng múa dân gian 53 dân tộc thiểu số của nước ta thể hiện sự đa dạng, phong phú và bản sắc của các dân tộc trong bức tranh tổng thể văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ hội nhập, giao lưu văn hóa, muốn có tác phẩm nghệ thuật múa độc đáo, đáp ứng yêu cầu hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc thì chất liệu dân gian là nguồn nguyên liệu quý  cần được gìn giữ và khai thác tốt nhất, phục vụ cho hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ mang lại hơi thở mới cho nghệ thuật múa.

    Ngược hành trình sáng tạo trong nghệ thuật múa chuyên nghiệp hơn nửa thế kỷ qua, 2/3 tác phẩm múa thành công đều bắt nguồn từ chất liệu dân gian. Bản sắc văn hóa là mạch nguồn hấp dẫn với các nhà biên đạo múa nhiều thế hệ. Người tiên phong trong việc sử dụng chất liệu này là biên đạo múa Hoàng Châu, khi ông kết hợp nhuần nhuyễn múa dân gian Thái với ngôn ngữ múa hiện đại trong tác phẩm “Tây Bắc vui tươi”. Tiếp đó là biên đạo múa Phùng Nhạn với tác phâm múa “Chim gâu”, khai thác từ múa dân gian dân tộc Sán Chay; NSND Lê Ngọc Canh với những tác phẩm “Hứng nắng” từ chất liệu múa Tày, “Cây Bông” từ múa Chơro, “Tiếng vọng non ngàn” từ múa của dân tộc S’tiêng; nghệ sĩ Đặng Hùng với những tác phẩm múa “Quạt Chăm”, “Khát vọng”, “Trống Paranưng” đều lấy cảm hứng từ chất liệu múa dân tộc Chăm… NSND Lê Ngọc Canh khẳng định: “Múa dân gian dân tộc là cội nguồn của sự sáng tạo là nguồn cảm hứng sáng tạo, là nguồn tư duy thẩm mỹ, là nguồn phát triển, cấu trúc tác phẩm hệ thống ngôn ngữ và cấu trúc ngôn ngữ. Hiểu được giá trị, bản sắc của dân gian dân tộc, chiều sâu văn hóa, chiều sâu dân tộc, chiều tri thức thì múa đó sẽ gắn được với tác phẩm. Nói một cách đơn giản thì múa dân gian dân tộc là cội nguồn  sự thành công của từng tác phẩm múa chuyên nghiệp.”

                        

     Những lễ hội dân gian như Lễ Cấp sắc của dân tộc Dao, lễ Cầu Mưa của dân tộc Mơ nông, S’tiêng; Lễ cúng hạ chiêng của người Châu Ro, Lễ hội Katê của dân tộc Chăm… đều là kho tư liệu giàu có, cung cấp nguồn chất liệu phong phú cho các biên đạo múa lựa chọn, sàng lọc, tìm ra ngôn ngữ mới cho tác phẩm của mình. Những áng sử thi, trường ca các dân tộc Tây Nguyên, tranh dân gian Đông Hồ, phù điêu, tượng cổ…là kho tàng đang chờ đợi các biên đạo khai thác, sáng tạo và thổi vào luồng ngôn ngữ mới cho nghệ thuật múa. Trong lịch sử ngành múa Việt Nam đã có nhiều biên đạo thành công khi sử dụng những chất liệu này, như “Cánh chim mặt trời” của NSND Thái Ly, “Khúc biến tấu từ những pho tượng cổ” do NSND Ứng Duy Thịnh biên đạo, “Mùa hoa ban nở” của NSND  Minh Tiến… Biên đạo múa Thái Phiên nói: “Ngày xưa người Thái múa xòe thì nhẹ nhàng và đầu luôn luôn cúi xuống đất. Bởi vì đội xòe của quan lang, quan tri châu không được  ngửa mặt lên nhìn nhưng mà đến khi đưa lên múa chuyên nghiệp trong không khí thời đại mới như múa “Mùa ban hoa nở” của cố NSND Minh Tiến thì các cô gái tươi cười nhảy lên và nón hoa xòe ra, biểu tượng cho nhân dân Thái Tây Bắc vừa được giải phóng, tưng bừng ngửa mặt đón ánh bình minh của cách mạng. Đấy là dân gian đương đại.”

                           

    Sự vận dụng và phát triển ngôn ngữ, chất liệu dân gian các dân tộc thiểu số không chỉ dừng lại ở những tác phẩm múa ngắn mà còn được các biên đạo vận dụng một cách tài tình, đầy nghệ thuật trong những tác phẩm thơ múa, kịch múa. Tiêu biểu như kịch múa “Ngọc trai đỏ” của NSND Việt Cường, “Đất nước” của Ứng Duy Thịnh, “Nguồn sáng” của NSND Anh Phương… được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ múa tiên tiến mà nền tảng là tinh hoa trong múa dân gian dân tộc, đồng thời mang đậm tinh thần tìm tòi, đổi mới. Các tác giả kết hợp cách nghĩ chân phương của đồng bào các dân tộc với tính triết lý của thời đại để sáng tạo nên những tác phẩm múa hiện đại, thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của khán giả ngày nay. NSUT Nguyễn Vũ Lân cho rằng: “Gần đây có một xu hướng nhiều biên đạo khai thác, đó là kết hợp những động tác múa dân gian, dân tộc với lối cấu trúc động tác theo nguyên lý của động tác múa đương đại. Nếu biết khai thác thì sẽ rất tốt nhưng để có thể kết hợp được với múa đương đại thì người biên đạo phải am hiểu phong tục tập quán, trạng thái, tâm lý, tình cảm của tộc người mình đang khai thác.”

      Chất liệu múa dân gian dân tộc tồn tại trong các tác phẩm múa chuyên nghiệp ở nhiều dạng khác nhau. Nếu ở những năm 50, 60 thế kỷ trước, các biên đạo tiếp thu nguyên dạng những động tác múa dân gian thì nay đội ngũ sáng tạo đã chắt lọc những chất liệu đặc trưng trong các điệu múa dân gian của từng dân tộc để đưa vào tác phẩm của mình. Sử dụng kỹ năng trong sáng tạo để biến cải những chất liệu có sẵn thành ngôn ngữ múa mới. Cao hơn nữa, ở nhiều tác phẩm, khán giả không thấy một động tác, chất liệu múa dân gian dân tộc cụ thể nào trên sân khấu nhưng khi xem vẫn cảm nhận được cốt cách, tinh thần của dân tộc đó. Theo NSND Ứng Duy Thịnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam điều đó chứng tỏ người biên đạo đã thẩm thấu sâu sắc văn hóa dân tộc thiểu số: “Tất cả chất liệu múa dân gian, dân tộc phải được phối hợp với các yếu tố khác như âm nhạc, trang phục, dân tộc… câu chuyện xảy ra ở đâu, với lứa tuổi nào, phong tục nào… thì tổng thể nó mới tạo nên một tác phẩm có giá trị nghệ thuật thể hiện được cốt cách, bản sắc. Có thể nói, qua tư duy, cảm xúc của mình tạo ra một ngôn ngữ thứ 3 đó là ngôn ngữ trong tác phẩm vẫn mang đậm ngọn nguồn, cốt cách, bản sắc, sắc thái của dân tộc.”

    Có thể thấy, những giá trị tinh túy của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số là mạch nguồn sáng tạo vô cùng quan trọng để các nhà biên đạo múa khai thác, kế thừa và phát huy làm nên những tác phẩm múa hiện đại, có giá trị nghệ thuật cao, giàu thêm kho tàng nghệ thuật múa Việt Nam. Bởi muốn gìn giữ bản sắc dân tộc trong nghệ thuật múa thì nghệ sĩ  phải biết đặt sự sáng tạo của mình trên nền tảng của những vũ điệu dân gian, thể hiện được nét riêng biệt của phong tục tập quán, quan niệm đạo đức, thẩm mỹ, tín ngưỡng tôn giáo…của mỗi dân tộc cùng với sự tiếp thu sáng tạo, chọn lọc tinh hoa nghệ thuật múa của các dân tộc trên thế giới./.

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC