Râu liêm pr’hay văn hóa Việt cóh bêệ n’jưl a lui
Thứ bảy, 00:00, 29/10/2016
Nắc đhêêng vêy muy râu choom moon tíh lâng t’lăng ooy tu tơơm dưr váih, chắp lêy râu la lua lịch sử, chắp lêy chủ quyền văn hóa âng apêê k’tiếc k’ruung, cắh choom tu muy cr’noọ bh’rợ n’hâu nắc bhrợ căh t’lăng đh’nớc, ton p’tốc moon p’lệt lịch sử, n’đhơ nắc đhêêng đoo lịch sử âng 1 râu tr’coó xa nul ty đanh.

          Cóh apêê tr’coó xa nul acoon ma nứih ty đanh âng Việt Nam, n’jưl a lui nắc tr’coó xa nul tr’haanh bhlâng. Cơnh lâng ma nứih Việt Nam xoọc ặt ma mông lâng bhrợ bhiệc óh k’tiếc k’ruung n’lơơng, zấp bêl xơợng xa nul n’jưl a lui, apêê đoo nắc xơợng hay tước vel đong.

          Đhị xa nay bấc học giả Trung Quốc moon, bêệ n’jưl a lui vêy tu tơơm nắc tơợ Trung Quốc lâng âng Trung Quốc, bấc đong pa chắp ch’meệt lêy tr’coó xa nul, ma nứih cha ớh n’jưl a lui Việt Nam âi dưr moon ghít: n’jưl a lui nắc bh’nơơn bh’rợ âng ma nứih Việt Nam lâng xay moon choom vêy c’lâng bh’rợ xay pa cắh k’rơ bhứah đoọng xay moon ghít lâng bha lang k’tiếc nắc: n’jưl a lui nắc tr’coó xa nul ty đanh âng ma nứih Việt Nam. Bha ar xrắ “ Râu liêm pr’hay văn hóa Việt cóh bêệ n’jưl a lui” âng Ngọc Ngà, phòng viên Đài P’rá Việt Nam:

               Ma nưih Việt Nam tơợ ahay a hươn âi vêy moon “ N’jưl a lui ngai píah a đoo n’nắc xơợng/ âi pân đil nắc oó chấc xơợng đh’riêng n’jưl a lui”. Nắc muy boóp ptoo moon ca coon cha chau âng a conh a bhướp hêê âi bhriêl g’lăng xay trúih p’cắh đoọng ha râu liêm pr’hay âng n’jưl  muy bêệ a ngoọn n’nâu. Râu liêm pr’hay âng đh’riêng n’jưl nắc đơơng âng r’vai cr’noọ Việt n’nắc âi lướt moọt ooy loom luônh cắh năl đợ mơ lang.

             Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến moon, tơợ đanh, bêệ n’jưl âi dưr váih lêệ a ham âng ma nưuíh Việt Nam, muy pa cắh mặt, muy pa cắh c’léh văn hóa âng ma nứih Việt:

            Bêệ n’jưl a lui dưr víah cóh đhị tơợ m’bur cram, tơơm ha roo, tơợ muy vel đong ch’nga bha dắh apêê đoo công vêy muy bêệ n’jưl a lui. Cóh apêê píah n’jưl, puôn cha nắc, xơợng cha nắc, cóh c’bhúh tr’coó xa nul cải lương,  tr’cóo xa nul cung đình Huế nắc zêng dưr váih n’jưl a lui lứch. Xang Cách mạng c’xêê T’cool pa tước nâu câi ahêê pa dưr n’jưl a lui pa bhlâng liêm crêê, âi vêy pa bhlâng bấc bh’nơơn  ga mắc xrắ moon ooy n’jưl a lui. Nắc đoo râu pa dưr pa bhlâng k’rơ.

                N’đhơ tước nâu câi cắh âi ngai xay moon crêê bhlâng n’jưl a lui vêy tơợ bêl, n’đhơ cơnh đêếc zấp ngai đha nuôr Việt Nam công choom moon ghít n’jưl a luiu nắc tr’coó xa nul âng ma nứih Việt, âi vêy tơợ pa bhlâng đanh. Cơnh lâng bấc ngai lướt z’lâh bơr g’lúh zêl prúh a rập a bhuy ang acoon ma nứih hêê, đh’riêng n’jưl a lui ta luôn bơơn chắp kiêng. Đhị ra văng glúh zêl prúh, đhi noo bộ đội nắc muy kiêng xơợng xa nul n’jưl a lui a năm. Đhị làn sóng Đài P’rá Việt Nam, đha nuôr prang k’tiếc, bộ đội cóh chiến trường âi chắp kiêng xa nul n’jưl a lui âng Đức Nhuận cơnh lâng “ Bha dơng acoon Nam Bộ”, “ Hà Nội- Huế- Sài Gòn”, “ Vũ khúc Tây Nguyên”, “ vel đong hêê bơơn pa chô”… Xa nul n’jưl a lui âng NSUT Mạnh Thắng cơnh lâng bài “ Tu miền Nam” âi chroi đoọng p’têệt loom luônh đha nuôr lâng bộ đội cóh bấc c’moo zêl prúh a rập a bhuy pay pa chô miền Nam pa zum k’tiếc k’ruung. Tr’coó xa nul a coon ma nứih tu đanh moon za zum lâng xa nul n’jưl a lui moon la lay âi bhrợ ha coon ma nứih ặt tr’đăn lấh mơ. Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Tâm moon:

                 Tr’coó xa nul cắh veye cr’liêng pr’hát, nắc ma c’la đay xơợng năl, muy ngai muy cơnh. N’jưl a lui âi bơơn bhrợ cơnh cr’noọ âng ma nứih nghệ sĩ p’tốc bhrợ. Apêê bh’nơn bh’rợ t’mêê apêê tác giả xrắ zêng đơơng âng pr’hơơm lang t’mêê nắc n’jưl a lui bơơn bhrợ liêm cơnh cr’noọ âng bh’nơơn bh’rợ t’mêê.

                   Xa nul a lui cắh muy chắp kiêng dhdị Việt Nam nắc âi băr dzang tước bấc đhị cóh bha lang k’tiếc. lấh m’pâng thê kỷ ha nua, dáp tơợ bêl nghệ sĩ píah n’jưl a lui Mạnh Thắng píah n’jưl a lui đhị sân khấu cố đô Yangon ( Myanmar), tước apêê g’lúh lướt cha ớh prang bha lang k’tiếc âng apêê c’bhúh nghệ thuật Việt Nam, n’jưl a lui âi dưr víah tr’coó xa nul bơơn bha lang k’tiếc chắp hơnh. Bấc nhạc sĩ cha ớh n’jưl ty đanh âng ma nứih Trung Quốc pa bhlâng kiêng pa choom píah n’jưl a lui Việt Nam. C’moo 1966 bêl tước cha ớh dhdị Trung Quốc, nghệ sĩ n’jưl a lui Đức Nhuận âi pa choom đoọng ha nghệ sĩ k’tiếc k’ruung pr’zơcs cha ớh n’jưl a lui Việt Nam cóh 45 t’ngay. Tước c’moo 1969, apêê nghệ sĩ Trung Quốc nắc ting pa choom píah n’jưl a lui tơợ nghệ sĩ Đoàn Anh Tuấn… bẹê n’jưl a luio Việt Nam âi ting dzung apêê nghệ sĩ lướt cha ớh cóh prang bha lang k’tiếc, zooi pr’zớc chr’ớh bha lang k’tiếc năl ghít lấh mơ ooy k’tiếc k’ruung, loom luônh acoon ma nứih Việt Nam. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam xay moon:

                   Cơnh muy râu xa nay cắh choom tr’xăl. Nắc đoo n’jưl a lui  nắc muy bêệ n’jưl ty âi vêy tơợ đanh, tơợ k’rơ bhâu lang nâu âi âng ma nứih Việt Nam. Cơnh lâng bhrợ pa dưr lâng bhrợ n’jưl tơợ thủ công, cram, ra dzul, ha la, tơợ apêê pr’đươi pa bhlâng tr’đăn lâng pr’ặt tr’mông vel bhươl Việt Nam. Ghít nắc râu đêếc nắc cắh choom xay moon cắh la lua. Apêê pr’zớc bha lang k’tiếc kiêng lêy pa ghít, dhdộ ooy n’jưl a lui tu cơnh đêếc tước Việt Nam lâng bơơn chuyên gia, apêê nghệ sĩ âng Việt Nam apêê đoo xay moon pa cắh đoọng ng’cơnh pa cắh xang n’nắc bơơn xơợng xa nul la lua nắc apêê đoo vêy ha dợ bơơn xơợng râu pr’hay, râu liêm, râu dưr váih ting c’moo c’xêê âng n’jưl a lui âng acoon ma nứih hêê.

                  Tơợ lang n’nâu dzang tước lang n’tốh, tơợ apêê ma nứih cắh vêy đh’nơcs pa tước ma nứih vêy đh’nớc…, bêệ n’jưl a lui âi vêy pr’dzoọng chr’nắp cóh pr’ặt tr’mông  tr’coó xa nul, pr’ặt tr’mông acoon ma nứih Việt Nam. Bh’rợ muy c’bhúh acoon ma nứih cắh cậ muy k’tiếc k’ruung n’đoo bơơn k’rong pay tr’coó xa nul âng k’tiếc k’ruung n’lơơng nắc râu buôn năl. Cơnh, apêê triều đại phong kiến Việt Nam đớp k’rong pay lâng đươi dua apêê tr’coó xa nul âng Trung Quốc, cắh cậ đăn đâu ahêê đớp pay tr’coó xa nul phương Tây. Nắc đoo râu pa bhlâng buôn năl cóh cr’chăl giao lưu lâng đương đớp pay văn hóa liêm pr’hay. Nắc đhêêng vêy muy râu choom moon tíh lâng t’lăng ooy tu tơơm dưr váih, chắp lêy râu la lua lịch sử, chắp lêy chủ quyền văn hóa âng apêê k’tiếc k’ruung, cắh choom tu muy cr’noọ bh’rợ n’hâu nắc bhrợ căh t’lăng đh’nớc, ton p’tốc moon p’lệt lịch sử, n’đhơ nắc đhêêng đoo lịch sử âng 1 râu tr’coó xa nul ty đanh./.

 

BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT TRONG CÂY ĐÀN BẦU

 

             Trong các nhạc cụ dân tộc truyền thống của Việt Nam, đàn bầu là nhạc cụ tiêu biểu. Với người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, mỗi khi nghe tiếng đàn bầu, họ cảm thấy nỗi nhớ quê nhà luôn trào dâng.

             Trước thông tin nhiều học giả Trung Quốc cho rằng, cây đàn bầu có nguồn gốc từ Trung Quốc và của Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc, người chơi đàn bầu Việt Nam đã lên tiếng khẳng định: cây đàn bầu là sản phẩm của người Việt Nam và kiến nghị cần phải có biện pháp quảng bá mạnh mẽ để chứng minh với thế giới rằng: Đàn bầu là nhạc cụ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bài viết “Bản sắc văn hóa Việt trong cây đàn bầu” của Ngọc Ngà,PV Đài TNVN:

                      # (Nền, nổi đàn bầu- Ru con Nam Bộ ( NSND Thanh Tâm)

                    Người Việt Nam từ xa xưa đã có câu: “Đàn bầu ai gẩy nấy nghe/ làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”. Chỉ một lời răn dạy con cái mà cha ông ta đã khéo léo quảng bá cho sức quyến rũ của cây đàn một dây dân dã này. Sức biểu cảm của tiếng đàn mang hồn Việt ấy đã đi vào lòng biết bao thế hệ.

                 Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến cho rằng, từ lâu, cây đàn bầu đã trở thành máu thịt của người Việt Nam, một đại diện, một biểu tượng văn hóa của người Việt:

             Cây đàn bầu xuất hiện ở nhiều nơi lắm từ rặng tre, gốc lúa, từ làng quê, thôn xóm xa xôi người ta cũng có một cây đàn bầu mộc. Trong các bạn đàn, tứ tấu, ngũ tấu, trong ban nhạc cải lương, nhạc cung đình Huế thì đều xuất hiện đàn bầu cả. Sau Cách mạng Tháng 8 cho tới nay chúng ta phát triển đàn bầu rất hoàn chỉnh, đã có rất nhiều tác phẩm lớn viết cho đàn bầu. Đó là sự phát triển rất ghê gớm.

                  Dẫu đến nay chưa ai xác định chính xác đàn bầu có từ bao giờ, nhưng bất kỳ người Việt Nam nào cũng có thể khẳng định đàn bầu là nhạc cụ của người Việt, đã có từ rất xa xưa. Với những người đi qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, tiếng đàn bầu luôn được yêu thích nhất. Trước giờ bước vào trận đánh, anh em bộ đội chỉ muốn được nghe tiếng đàn bầu. Qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, đồng bào cả nước, bộ đội ở chiến trường đã như mê say tiếng đàn bầu của Đức Nhuận với “Ru con Nam Bộ”, “Hà Nội - Huế - Sài Gòn”, “Vũ Khúc Tây Nguyên”, “Quê tôi giải phóng”... Tiếng đàn bầu của NSUT Mạnh Thắng với bài “Vì miền Nam” đã góp phần kết nối tình quân dân trong những năm tháng kháng chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Âm nhạc dân tộc nói chung và tiếng đàn bầu nói riêng đã làm con người xích lại gần nhau hơn. Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Tâm cho rằng:

              Âm nhạc không có lời, tự cảm nhận của người nghe thì mỗi người cảm nhận mỗi kiểu. Đàn bầu đã đáp ứng được yêu cầu của người nghệ sĩ sáng tác. Các tác phẩm mới các tác giả viết đều mang hơi thở thời đại thì đàn bầu đáp ứng được khá tốt yêu cầu của tác phẩm mới.

           Tiếng đàn bầu không chỉ được yêu thích tại Việt Nam mà đã lan tỏa đến nhiều nơi trên thế giời. Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi nghệ sĩ đàn bầu Mạnh Thắng biểu diễn đàn bầu trên sân khấu cố đô Yangon (Myanmar), đến các cuộc lưu diễn khắp thế giới của các đoàn nghệ thuật Việt Nam, đàn bầu trở thành nhạc cụ được thế giới yêu mến, cảm phục. Nhiều nhạc sĩ chơi đàn dân tộc Trung Quốc rất thích học đàn bầu Việt Nam. Năm 1966 khi đi biểu diễn tại Trung Quốc, nghệ sĩ đàn bầu Đức Nhuận đã dạy cho nghệ sĩ nước bạn chơi đàn bầu Việt Nam trong 45 ngày. Đến năm 1969, các nghệ sĩ Trung Quốc lại theo học đàn bầu từ nghệ sĩ Đoàn Anh Tuấn… Cây đàn bầu Việt Nam đã theo chân các nghệ sĩ đi biểu diễn khắp nơi trên thế giới, giúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về đất nước, tâm hồn con người Việt Nam. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam chia sẻ:

          Như một chân lý không thế thay đổi. Đó là đàn bầu là một cây đàn cổ truyền có từ lâu đời, từ hàng nghìn đời nay của dân tộc Việt Nam. Với cách xây dựng và làm cây đàn từ thủ công, tre, nứa, lá, từ những chất liệu rất dân tộc cũng như xuất tích của cây đàn bầu gắn liền với đời sống nông thôn Việt Nam. Rõ ràng điều đó là không thể phủ nhận. Các bạn quốc tế muốn tìm hiểu kỹ, sâu về cây đàn bầu thì nên đến Việt Nam, và được chuyên gia, các nghệ sĩ của Việt Nam họ phân tích, minh họa cho cách thể hiện rồi nghe được âm thanh thật thì họ mới thấy được cái hay, cái đẹp, cái sự tồn tại trường tồn của cây đàn bầu của dân tộc chúng ta.

               Từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ những người vô danh đến hữu danh…, cây đàn bầu đã có vị trí xứng đáng trong đời sống âm nhạc, đời sống xã hội Việt Nam. Việc một dân tộc hay quốc gia nào đó tiếp thu nhạc cụ của quốc gia khác là bình thường. Giống như, các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp thu và sử dụng các nhạc cụ của Trung Quốc, hay gần đây chúng ta tiếp thu nhạc cụ phương Tây. Đó là chuyện hết sức tự nhiên trong quá trình giao lưu và tiếp thu văn hóa. Chỉ có điều cần thẳng thắn và minh bạch về nguồn gốc xuất xứ, tôn trọng sự thật lịch sử, tôn trọng chủ quyền văn hóa của các quốc gia, không thể vì một ý đồ nào đó mà mập mờ khái niệm, xuyên tạc lịch sử, dù đó chỉ là lịch sử của 1 loại nhạc cụ truyền thống/.

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC