K’tiếc hêê vêy zr’lụ biển bhứah ga mắc, plêêng k’tiếc liêm crêê đoọng pa dưr chóh rong biển. N’đhơ cơnh đêếc, đhăm chóh rong biển cóh Việt Nam nắc dâng 10.000 ha, cơnh bh’nơơn lấh 100.000 tấn t’mêê/c’moo, bấc bhlâng nắc đơơng pa câl ooy k’tiếc k’ruung n’lơơng.
Đhị apêê tỉnh trúih toor biển miền Trung, chóh lâng bhrợ têng rong biển âi dưr váih muy bh’rợ âng bấc đha nuôr. Cóh pa zêng râu rong cóh đâu pa zêng rong câu, rong ca grật nắc rong mơ bơơn bhrợ têng tơợ cruung đác, ma nứih tước đhị bha lang chóh đoọng câl. Bấc c’moo đăn đâu, bêl đợ pr’đơợ cr’van cóh đác trúih toor biển r’dợ bil lứch, rong mơ ting t’ngay ting bơơn chr’nắp dal. N’đhơ cơnh đêếc, bơr pêê c’moo đăn đâu, đợ rong mơ r’dợ bil xrượt, zên câl nắc xiêr đệ, bhrợ ha râu pa chô âng ma nứih bhrợ têng rong mơ công xiêr. T’coóh Trần Văn Phát, ặt cóh chr’val Ninh Phước, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đoọng năl:“Bhrợ têng rong mơ zr’nắh k’đháp bhlâng, nắc ặt đhị chriệt tơợ ra diu tước ha bu, đấc nắc choom p’tặ p’răng, bh’nhăn boo bh’nhăn k’đháp lấh. ting t’ngay ting k’đháp tu bhuông ra kịt ting t’ngay ting bấc. Coon conh zi vêy t’ngay bơơn bhrợ bơr pêê tạ, cắh vêy mơ bấc.”
Đh’rứah lâng đợ rong cruung đác, muy bơr đha nuôr công âi chóh apêê râu rong cơnh: rong câu, rong nho, rong mứt, rong ca grật… N’đhơ vêy bấc pr’đơợ liêm n’đắh đác, plêêng k’tiếc n’đhơ cơnh đêếc đha nuôr công cắh lấh kiêng lâng bh’rợ chóh rong. Đhị tỉnh Phú Yên, rong biển bơơn t’moọt chóh tơợ 20 c’moo đâu, đhăm chóh rong cóh đâu vêy bêl dzoóc tước 300 hecta n’đhơ cơnh đêếc, xoọc đâu nắc đheêng dâng 25 hecta. Ting t’coóh Nguyễn Tri Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp lâng pa dưr vel bhươl tỉnh Phú Yên, râu tu bha lâng nắc đoo c’lâng lúh cắh yêm têêm, râu pa chô nắc hắt:“Thị trường cắh yêm têêm nắc pa bhlâng k’đháp. Thị trường kiêng nắc apêê đoo chóh, thị trường cắh kiêng, chr’nắp đệ, cắh vêy lãi nắc apêê đoo cắh tộ chóh dzợ, cắh cậ bhrợ râu lơơng. Tu, rong vêy muy râu p’tặ pa goóh zư đớc choom, muy bơr râu nắc cắh choom. Zên câl công choom k’đhơợng đoọng apêê đoo chóh rong vêy lãi lấh achông.”
Việt Nam xoọc vêy lấh 800 râu rong biển. Đhăm chóh rong biển cóh Việt Nam lấh 10.000 ha, bh’nơơn lấh 101.000 tấn/c’moo. Phó Giáo sư Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Băn chóh biển Việt Nam moon, n’dhơ vêy bấc pr’đơợ liêm n’đhơ cơnh đêếc, ngành ha rêê đhuốch cắh âi la lua vêy râu k’rang tước bh’rợ chóh rong biển. Xoọc đâu, lấh mơ đợ đơơng pa câl thô ting c’lâng tiểu ngạch, chr’nắp kinh tế đệ nắc cặh vêy bấc mặt hàng vêy chr’nắp dal, cắh vêy bấc doanh nghiệp lấh kiêng rong biển. Bh’rợ pa dưr rong biển vêy xay bhrợ bấc bh’rợ xa nay cơnh: Pa xiêr khí thải đong kính, bhrợ pa liêm môi trường, rong biển choom c’júuc apêê râu nam ha lêêng. Đhị apêê zr’lụ chóh, rong vêy choom c’júuc pay đợ râu nha nhự, bhrợ pa liêm môi trường, đơơng âng ô xy ha râu lơơng. Phó Giáo sư Nguyễn Hữu Dũng đoọng năl: “Chóh rong lấh bh’rợ pêếh pay vêy chr’nắp dzợ zooi bhrợ bhr’lậ môi trường, zư lêy môi trường za zum. Băn tổ hợp bấc râu, nắc c’júuc pay râu nha nhự âng êế a xiu, ch’na xưa, xrắh k’huung, bhrợ đoọng ha môi trường bấc râu cơnh đêếc năc u liêm ch’ngaach. Tu cơnh đêếc, bơơn đươi dua đợ ch’na pa bhlâng liêm.”
Đoọng pa dưr rong biển dưr váih muy râu băn t’đang t’pấh bấc đha nuôr, ting apêê chuyên gia choom xơợng bhrợ muy bơr c’lâng xa nay cơnh: Bhrợ têng liêm glặp lâng liêm choom đợ pr’đơợ liêm rong biển cruung đác crêê hân noo, crêê kỹ thuật, ha dưr dal bh’nơơn, chất lượng bh’nơơn, zư lêy pr’đơợ liêm. P’xoọng apêê ngai chóh t’mêê vêy chr’nắp, vêy chất lượng dal lấh apêê râu buôn đoóc chóh nắc rong câu. T’bhlâng cr’chăl bhrợ têng lâng đươi dua pr’đươi rong biển, pa chắp ch’mêệt lêy đươi dua keo rong biển moọt ooy apêê ngành công nghiệp, dịch vụ. t’coóh Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản đoọng năl, k’noọ tước, kiêng vêy xay moon đợ zr’lụ biển pr’đơợ liêm crêê lâng apêê râu băn chóh, đoọng tơợ đêếc pa chắp ch’mêệt lêy pa dưr apêê râu chr’nóh âng đhăm k’tiếc n’nắc dưr váih pr’đươi hàng hóa, chr’nắp dal: “Nâu câi, ahêê pa bhlâng k’rang tước công nghệ bhrợ têng đoọng apêê bh’nơơn chr’nắp dal. Công nắc rong, nắc tảo bêl ahêê bhrợ têng apêê bh’nơơn p’xoọng ha c’rơ acoon ma nứih lâng đươi dua cóh bh’rợ y tế. ĐH’rứah lâng n’nắc nắc bhrợ t’bhứah apêê thị trường cóh cr’loọng k’tiếc hêê lâng k’tiếc k’ruung n’lơơng, xay trúih apêê bh’nơơn âng Việt Nam choom bhrợ tơợ rong, chóh cóh Việt Nam vêy chr’nắp, chất lượng liêm.”./.
RONG BIỂN: HƯỚNG ĐI MỚI
ĐỂ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN BỀN VỮNG
PV Thái Bình /VOV Miền Trung
Nước ta có vùng biển rộng lớn, khí hậu thuận lợi để phát triển nuôi trồng rong biển. Thế nhưng, diện tích nuôi trồng rong biển ở Việt Nam chỉ khoảng 10.000 ha, với sản lượng hơn 100.000 tấn tươi/năm, chủ yếu xuất thô ra nước ngoài.
Tại các tỉnh duyên hải miền Trung, trồng và khai thác rong biển đã trở thành một nghề của nhiều ngư dân. Trong số các loại rong tại đây gồm rong câu, rong sụn, rong mơ thì rong mơ được khai thác từ tự nhiên, thương lái ra tận bãi thu mua. Mấy năm gần đây, khi nguồn lợi thủy sản ven bờ cạn kiệt, rong mơ ngày càng được giá. Tuy nhiên, vài năm gần đây, nguồn rong mơ cạn kiệt, giá lại giảm mạnh, khiến thu nhập của người khai thác rong mơ sụt giảm. Ông Trần Văn Phát, ở xã Ninh Phước, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết: “Khai thác rong mơ vất vả lắm, phải chịu lạnh từ sáng tới chiều, lên phải phơi nắng, càng mưa càng khổ nữa. Càng ngày càng khó vì ghe thuyền ngày càng đông. Cha con tôi có ngày làm được có vài tạ, không có bao nhiêu hết.”
Cùng với nguồn rong tự nhiên, một số ngư dân cũng đã trồng các loại rong như: rong câu, rong nho, rong mứt, rong sụn…Mặc dù có nhiều lợi thế về mặt nước, khí hậu nhưng bà con cũng không mấy mặn mà với việc trồng rong. Tại tỉnh Phú Yên, rong biển được đưa vào trồng từ 20 năm nay, diện tích trồng rong ở đây có lúc lên 300 héc ta nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 25 héc ta. Theo ông Nguyễn Tri Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên, nguyên nhân chính là đầu ra không ổn định, lợi nhuận thấp: “Bấp bênh thị trường nó rất khó, không ổn định. Thị trường cần thì họ trồng, thị trường không cần, giá thấp, không có lãi thì họ không trồng nữa hay làm đối tượng khác. Bởi vì, rong có một loại phơi khô lưu kho được, một số không thể làm được. Gía cả cũng phải đảm bảo để người ta trồng rong có lãi hơn tôm.”
Việt Nam hiện có hơn 800 loài rong biển. Diện tích nuôi trồng rong biển ở Việt Nam trên 10.000 ha, sản lượng hơn 101.000 tấn/ năm. Phó Giáo sư Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, tuy có nhiều tiềm năng nhưng lâu nay, ngành nông nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc trồng rong biển. Hiện nay, ngoài số lượng xuất thô theo đường tiểu ngạch, giá trị kinh tế thấp thì không có nhiều mặt hàng có giá trị gia tăng, không có nhiều doanh nghiệp mặn mà với rong biển. Việc phát triển rong biển sẽ giải quyết nhiều vấn đề như: giảm được khí thải nhà kính, làm sạch môi trường, rong biển hấp thụ được các kim loại nặng. Tại các vùng nuôi, rong sẽ hấp thu được chất ô nhiễm, làm sạch môi trường, cung cấp ô xy cho sinh vật. Phó Giáo sư Nguyễn Hữu Dũng cho biết: “Trồng rong ngoài việc thu hoạch có giá trị còn giúp cải tạo môi trường, bảo vệ chung cho vấn đề môi trường. Nuôi tổ hợp đa loài, nó hấp thu chất thải của cá, thức ăn dư của giáp xác, làm cho môi trường đa loài như thế nó rất sạch. Chính như thế, tận dụng được được hệ số thức ăn rất là tốt.”
Để phát triển rong biển thành một đối tượng nuôi thu hút nhiều người dân, theo các chuyên gia cần phải thực hiện một số giải pháp như: Khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn lợi rong biển tự nhiên đúng mùa vụ, đúng kỹ thuật, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, bảo vệ nguồn lợi. Bổ sung các đối tượng trồng mới có giá trị, có chất lượng cao ngoài đối tượng truyền thống là rong câu. Tăng cường quá trình chế biến và sử dụng nguyên liệu rong biển, nghiên cứu ứng dụng keo rong biển vào các ngành công nghiệp, dịch vụ. Ông Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết, sắp đến, cần phải đánh giá những vùng biển tiềm năng, phù hợp với các đối tượng, để từ đó nghiên cứu phát triển các loài bản địa thành sản phẩm hàng hóa, giá trị gia tăng cao: “Bây giờ, chúng ta phải rất quan tâm đến công nghệ chế biến để làm các sản phẩm giá tăng. Cũng là rong, là tảo khi mà chúng ta chế biến thành các sản phẩm bổ sung cho sức khỏe con người và sử dụng trong lĩnh vực y tế. Song hành với đó là mở rộng các thị trường trong và ngoài nước, quảng bá các sản phẩm của Việt Nam làm được từ rong, trồng ở Việt Nam có giá trị, chất lượng cao”./.
Viết bình luận