T’ruíh ooy apêê giáo viên k’coong ch’ngai Quảng Nam
Thứ bảy, 00:00, 19/11/2016
Apêê nắc pazêng ma nuýh âng đơơng cr’liêng chữ tước da ding k’coong cóh pr’đợơ bấc đhị dzợ “3 cắh”: cắh vêy điện, cắh vêy đác, cắh vêy c’lâng p’rang. Zr’nắh k’đháp nắc cơnh đếêc, đhơ cơnh đếêc nắc apêê cung ắt g’bọ lâng trường, lâng lớp, lâng học sinh k’er da dô…

            Pa dưr tinh thần  xung kích âng lang p’niên, lâng loom luônh liêm ta níh âng manuýh giáo viên, cóh pazêng c’moo hay tỉnh Quảng Nam ơy t’pấh k’ra bhầu giáo viên zr’lụ da ding k’coong đấc pa bhrợ. Apêê nắc pazêng ma nuýh âng đơơng cr’liêng chữ tước da ding k’coong cóh pr’đợơ bấc đhị dzợ “3 cắh”: cắh vêy điện, cắh vêy đác, cắh vêy c’lâng p’rang. Zr’nắh k’đháp nắc cơnh đếêc, đhơ cơnh đếêc nắc apêê cung ắt g’bọ lâng trường, lâng lớp, lâng học sinh k’er da dô… Bha ar xrắ âng Vơ Nich Oang- PV Đài TNVN:

          Vel đong đhị chr’hoong Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, tợơ ơy glúh đắh trường, apêê pr’zợc mr’đoo rúh nắc chớih c’lâng pa bhrợ đhị đồng bằng ha dợ Nguyễn Thị Xuân Huyên nắc tình nguyện xrắ bha ar zước đấc ooy k’coong ch’ngai chr’hoong Hiên đoọng dạy học. Bêl vêy g’lúh t’pấh giáo viên da ding k’coong Quảng Nam, cô Huyên zước thi lâng bơơn điểm dal bhlầng nắc 9,5 điểm. C’xêê 9/1997, cô Huyên nắc moọt bhrợ têng.

          Nâu đoo nắc cr’chăl chr’hoong Hiên dzợ “3 cắh”, cắh vêy điện, cắh vêy đác, cắh vêy c’lâng p’rang liêm buôn, giáo viên nắc chô ooy đong đay zập c’moo 2 chu a năm. Pa choom chữ đoọng ha p’niên Cơ Tu cóh đâu, apêê thầy cô giáo ting năl lấh mơ râu boóp p’rá âng ma nuýh xrắ văn Nguyễn Bá Học “ c’lâng lướt zr’nắh, cắh lấh zr’nắh tu k’ruung đác, da ding k’coong, ha dợ nắc tu loom ma nuýh cắh kiêng z’lấh da ding, chang k’ruung”. Cô giáo p’niên tước trường vel đoọng pa choom học, đh’rứah, cha, đh’rứah ắt, đh’rứah pa bhrợ lâng đh’rứah pa choom prá p’rá Cơ Tu. Đhanuôr vel đong lêy cô điu cơnh ma nuýh acoon cóh đhị đâu. Bêl chr’hoong Hiên pác bhrợ váih bơr chr’hoong Đông Giang lâng Tây Giang, cô nắc muy cóh pêê giáo viên dzợ c’mor bơơn k’đươi đấc pa bhrợ đhị trường Phổ thông dân tộc bán trú Tr’hy- chr’val k’noong k’tiếc khu 7 ch’ngai bh’dắh âng chr’hoong Tây Giang. Cô Huyên xay moon:

          A cu nắc ắt cóh đong đhanuôr Cơ Tu, ch’ngai đắh trường 800m, đh’rứah ắt cha za zưm lâng đhanuôr. Râu zr’nắh bhlầng nắc đhị họom rao, đhuônh ooy tọom đác ch’ngai tợơ đong ắt 500m. C’lâng lướt vốch nắc pa bhlầng k’đháp k’ra, đhêl chăng l’hộ l’hốch. Chô ooy đong nắc cắh vêy xe lướt tíh, tớt cóh xe đò ha dợ xe nắc âng đơơng a băng, prí… ếêh râu âng đơơng ma nuýh… a đay kiêng tớt xe nắc chếêc g’vúi, bhrợ têng zập cơnh đoọng bơơn tớt cóh xe, zr’nắh pa bhlầng. Đhơ cơnh đếêc nắc râu boóp p’rá cắh choom h’vil lâng cu nắc “ hâu đhanuôr acoon cóh apêê mặ ma mông, hâu đay cắh, doó râu zr’nắh k’đháp”, tu cơnh đếêc nắc a cu pa zay lứch c’rơ.

          Apêê thầy cô giáo tợơ xuối đấc, xoọc tợơp lêy đhr’đấc ngoọ cơnh c’lâng dzoóc ooy pleng. Đhr’đấc nâu tước đhr’đấc n’tốh, d adding nâu tước da ding n’tốh lêy cắh choom lứch… Plơơm, ga gơu, c’lâng lướt k’tiêr, lụ láach lâng râu cr’pân a đhắh dzăm cóh crâng nắc r’dợ cung lóih xăl pazêng râu hay đong cóh loom. Đhị đếêc, phố xá bấc ơl ma nuýh lướt ra véch lâng ma nuýh đong zập t’ngay lêy pướih chr’na ta bhúch 1 ch’nắc. Pazêng nắc tu bh’rợ âng đơơng cr’liêng chữ cóh da ding k’coong. Pazêng vel bhươl ắt ch’ngai tợơ c’lâng moọt đhậu cóh crâng da ding. Lâng pazêng p’niên dưr pậ đui cơnh bhơi k’tang cắh vêy râu tr’xăl ha dang cắh vêy cr’liêng chữ chô tước đâu. Cóh mắt p’niên, n’đhơ điểm trường cắh lấh liêm ha dợ nắc đhr’nong trường pậ pa bhlầng, liêm pa bhlầng cóh lang apêê. Nắc đhị apêê a đhi xrắ cr’liêng chữ ha dợ lalăm a hay, tất lang a bhướp a dích cắh cợ a mế a ma apêê cắh choom xrắ.

          Pa choom cóh da ding k’coong, bấc thầy cô bhrợ zêng lâng bh’rợ nắc ta luôn tươc zập đong học sinh k’đươi moon ma nuýh đong ha pêê đoọng ha pêê tước trường. Vêy bêl pa cắh mặt apêê đoàn thể vel đong bhrợ bh’rợ k’đươi moon, chếêc lêy cơnh xăl pazêng j’niêng cr’bưn cóh pr’ắt tr’mông đhanuôr cóh vel bhươl. Z’lấh c’xêê c’moo, r’dợ nắc apêê dưr váih pazêng ma nuýh cóh vel bhươl. Pa dưr pr’dzoọng apêê bơơn đhanuôr hay tước, chắp nhêr; bh’rợ âng apêê bơơn đhanuôr pa gơi rau rơơm tin xăl tr’mung tr’méh ha y chroo âng pazêng lang p’niên zr’lụ k’coong ta bhúch cr’liêng chữ…

          Cô Nguyễn Thị Hoa, giáo viên Trường Tiểu học chr’val Trà Đốc, chr’hoong Bắc Trà My 32 c’moo bhrợ giáo viên nắc lấh m’pâng nắc pa choom đhị trường vel. Cô Hoa moon:

          T’ping bêl a  hay lâng nâu kêi nắc lalay bhlầng. Bêl đếêc, cắh vêy c’lâng nắc cu lướt truíh toor k’ruung,  z’lấh c’lâng crâng đoọng tước trường. Zr’nắh k’đháp pa bhlầng, bêl đếêc cắh ơy vêy thuỷ điện cắh vêy poong pa chang k’ruung nắc a zi lướt lâng ghe. Bêl đác túh dưr chô nắc đác k’ruung Tranh hooi hor pa bhlầng, đươi vêy đhanuôr pa chang đoọng, apêê đuối ghe z’lấh pazêng t’cuôl đhêl pậ dal mơ đong, ơy bơơn chang đắh tốh k’ruung nắc a cu vêy bơơn năl a đay dzợ mamông. N’đhơ zr’nắh k’đháp lâng cr’pân cơnh đếêc nắc acu cung pa zay lướt, cu căh choom lơi trường, lơi lớp. Tợơ đong cu tước trường lứch m’pâng t’ngay lướt c’lâng dzung. Pleng boo túh nắc ắt cóh trường, 2 c’xêê nắc vêy chô ooy đong 1 chu, coon k’tứi nắc đớc cóh đong a mế k’rang băn. A cu ắt zư p’niên, đoọng ha pêê tước lớp liêm zập, ha dang đoọng đhêy 2, 3 t’ngay nắc a pêê dzơơng cắh kiêng học dzợ, tước bêl đếêc k’đháp  bhlầng đoọng t’pấh apêê rách học cớ. Tước t’ngay 20/11 a cu cung xay moon đoọng hapêê năl nắc t’ngay t’tun apêê pếêh pô k’tang, đơơng prí, a rong đoọng cô. A cu xợơng der loom bhlầng. Nắc râu ắt cóh loom, a cu cắh choom ha vil…

          Pa tệêt lâng bh’rợ pa too pa choom cóh da ding k’coong Trà My ơy lấh 18 c’moo, lâng cô Nguyễn Thị Ái nắc pazêng t’ngay c’xêê đanh đươnh lâng bấc râu t’ruíh pr’hay bhrợ dưr loom ma nuýh. Pazêng cfr’liêng mắt vil liêm âng p’niên k’tứi, boóp k’chăng âng a pêê a đhi lâng râu k’er da dô âng đhanuôr acoon cóh nắc ơy pa mâng loom cô g’bọ lâng bh’rợ tr’nêng. Cô Nguyễn Thị Ái truíh:

          Zr’nắh k’đháp nắc bấc, bêl cu đấc ooy đâu địên đài cắh vêy, c’lâng, trường trạm nắc ba bơ. La lăm a hay avị cắh vêy cha, a doóh cắh vêy xập. A pêê cô đấc ooy đâu âng đơơng pazêng xa nập ty đoọng ha pêê a đhi. Lêy a pêê a đhi ta bhúch zập râu tợơ pr’đươi học tập, bha ar xrắ zêng apêê cô câl đoọng, sách học nắc vặ tợơ nhà trường. C’năl đọong ca coon tước lớp âng apêê  ca conh ca căn  học sinh nắc cắh vêy cơnh nâu kêi. Bấc chu thầy cô nắc đấc ooy ha rêê đoọng t’pấh apêê tước lớp. Apêê cắh vêy ắt cóh đong zêng ắt đhấu cóh da ding, conh căn apêê nắc cắh vêy k’đươi ca coon đay tước lớp… cơnh đếêc hớ”.

          Pazêng râu zr’nắh k’đháp lêy cơnh muy cha groong k’đháp đoỌng z’lấh, pazêng apêê âng đơơng, pa choom cr’liêng chữ đoọng ha da ding k’coong nắc dzợ t’pấh cóh loom âng zập lang giáo viên dzợ p’niên. Lêy đui cơnh vêy muy m’bộc xoọc dưr chắt váih bhlưa apêê lang thầy cô đoọng ha pêê pa tệêt bh’rợ “ nắc ma nuýh đuối bhuông” cắh bool đhêy jợ. Apêê nắc dzợ pa zay tước ooy vel bhươl la ngúa la bam. Pazêng giáo viên p’niên lấh 20 c’moo  ha dợ nắc tợơp chắp kiêng da ding k’coong, nha nher apêê p’niên tăm tít, đh’mâl đh’móh… Pr’ắt tr’mông âng apêê nắc đui cơnh chô ooy đâu, apêê âng đơơng lứch c’rơ, lứch loom luônh ooy bh’rợ pa choom cr’liêng chữ đhị da ding k’coong./.

NHỮNG NHÀ GIÁO VÙNG CAO QUẢNG NAM

(PV: Vơ nich Oang)

          Phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ, bằng tấm lòng nhiệt huyết của người giáo viên, trong những năm qua tỉnh Quảng Nam đã tiếp nhận hàng nghìn lượt giáo viên vùng xuôi lên công tác. Họ là những người cõng chữ lên non trong điều kiện nhiều nơi còn 3 không”: không điện, không nước, không đường giao thông. Khó khăn là vậy nhưng họ vẫn bám trụ với trường, với lớp, với học sinh thân yêu….Bài viết của Vơ Ních Oang- PV Đài TNVN:

         Quê tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, sau khi ra trường, các bạn cùng lứa tuổi đều lựa chọn công tác ở dưới xuôi thì Nguyễn Thị Xuân Huyên lại tình nguyện viết đơn xin lên vùng cao huyện Hiên để dạy học. Khi có đợt tuyển giáo viên miền  núi Quảng Nam, cô Huyên đăng ký và thi đậu đầu vào với số điểm cao nhất 9,5 điểm. Tháng 9/1997, cô Huyên chính thức nhận nhiệm vụ.

          Đây là thời kỳ huyện Hiên còn 3 không”: không điện, không nước, không đường giao thông, giáo viên mỗi năm chỉ được về nhà hai lần. Làm nhiệm vụ dạy chữ cho học sinh Cơ Tu nơi đây, các thầy cô giáo càng thấm thía câu nói  của nhà văn Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Cô giáo trẻ đến trường thôn để dạy học, cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng học tiếng Cơ Tu. Bà con địa phương coi cô như người con của đồng bào. Khi Hiên được tách thành hai huyện Đông Giang và Tây Giang, cô là một trong 3 giáo viên được điều động lên công tác ở trường Phổ thông dân tộc bán trú Tr’hy- xã biên giới khu 7 xa xôi nhất nhì của huyện Tây Giang. Cô Huyên bộc bạch:

                “ Mình ở tạm trong nhà dân là người đồng bào, cách trường học 800m, cùng ăn cùng ở, sinh hoạt chung mọi cái với bà con. Cái cực nhất là nơi tắm rửa phải xuống suối cách nhà 500m. Đường đi lại thì khó khăn toàn đá lởm chởm. Về nhà thì không có xe thông tuyến, ngồi xe đò mà xe toàn chở lâm sản nào là chuối rừng là măng rừng, không phải chở người… mình muốn đi mình phải bu, phải chèo đủ kiểu hết, rất là khổ. Nhưng dù vậy mình rất tâm đắc với câu nói “tại sao họ là người đồng bào họ sống được thì mình sống được không có gì là khổ hết” cho nên cô cố gắng phấn đấu hết mình”.

         Các thầy cô giáo từ xuôi lên, lần đầu nhìn những con dốc dựng ngược tưởng như lên đỉnh trời. Dốc nối dốc, quả núi này hiện sau quả núi khác tưởng như không bao giờ dứt.… Nhưng vắt, muỗi, đường đi trơn trợt và nỗi sợ thú rừng rồi cũng quen, nhường lại cho nỗi nhớ đồng bằng. Ở đó, phố xá đông vui, và người thân ngày ngày nhìn mâm cơm thiếu vắng một người. Tất cả vì sứ mệnh gieo chữ trên non. Những nóc, làng dường như nằm biệt lập giữa núi rừng. Và những đứa trẻ lớn lên hồn nhiên như cái cây ngọn cỏ sẽ chẳng có một sự thay đổi nào nếu con chữ không được mang lên đây. Trong mắt chúng, dù điểm trường chỉ sơ sài tạm bợ nhưng đó là ngôi trường to nhất, đẹp đẽ nhất cuộc đời. Đó là nơi các em viết nên con chữ mà trước kia, cả đời ông bà hay cha mẹ các em chưa thể nào viết được.

           Dạy học trên núi, nhiều thầy cô làm cả công việc phải thường xuyên đến nhà từng học sinh thuyết phục gia đình các em đưa con em đến trường. Có lúc thay mặt các đoàn thể địa phương làm công tác dân vận, tìm các thay đổi dần  những tập tục lạc hậu trong đời sống dân bản. Qua năm tháng, họ dần trở thành những thành viên của thôn, nóc. Hình ảnh của họ được dân bản ghi nhớ, quý mến; công việc của họ được dân bản gửi gắm kỳ vọng thay đổi tương lai những thế hệ trẻ thơ vùng cao thiếu chữ…

            Cô Nguyễn Thị Hoa, giáo viên Trường tiểu học xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My 32 năm làm giáo viên thì hơn một nửa thời gian dạy học ở điểm lẻ (trường thôn). Cô Hoa bảo:

                   “Đối với hồi xưa với bây giờ khác xa lắm. Hồi đó, không có đường mình phải đi ven, đi rúc trong núi để đến trường. Khó khăn lắm, hồi chưa có thủy điện không có cầu phải qua sông bằng chiếc ghe. Khi nước lũ dâng thì nước sông Tranh chảy xiết, nhờ người dân họ chèo đò vượt qua những tản đá lớn hơn cả nóc nhà, khi qua bên kia sông rồi thì mình mới biết mình còn không. Dù vất vả và nguy hiểm như vậy cũng phải đi, mình không thể bỏ lớp bỏ trường được. Từ nhà cô tới trường là hết 1 buổi đường đi bộ. Trời mưa lũ thì ở lại, bám trụ lun, 2 tháng rồi về nhà, con nhỏ để ở nhà bà chăm. Mình ở lại giữ các em, để cho các em có nề nếp đến lớp thường xuyên. Nếu nghĩ vài ngày thì các em chán, các em sẽ bỏ học.. lúc đó rất khó để vận động các em lên lớp. Đến ngày 20/11 mình cũng tuyên truyền cho các em biết, sáng hôm sau thì thấy các em hái những bông hoa rừng, những nải chuối rồi bánh sắn các em gói mang tặng cho các cô. Mình rất cảm động. Chắc có lẽ đó là những kỉ niệm không bao giờ quên…”

                 Gắn bó với sự nghiệp giáo dục vùng cao Trà My đã hơn 18 năm nay, với cô Nguyễn Thị Ái là những chuỗi ngày dài với biết bao câu chuyện cảm động. Những đôi mắt tròn xoe ngây thơ, nụ cười vô tư của các em và sự yêu thương của đồng bào dân tộc thiểu số đã níu kéo cô gắn bó với nghề. Cô Nguyễn Thị Ái kể:

               “ Khó khăn rất là nhiều, khi cô lên đây thì điện đài không có, đường, trường trạm thì rất sơ sài.  Trước đây cơm không có ăn, áo không có mặc. Các cô lên đem theo quần áo cũ cho các em. Nhìn các em đi học thiếu thốn đủ thứ từ dụng cụ học tập, sách vở đều các cô mua cho, sách học thì mượn của nhà trường. Ý thức cho con em đi học của phụ huynh không như bây giờ. Có nhiều lúc thầy cô lên núi đi vận động các em lên lớp. Các em không có ở nhà toàn núp trên núi, ba mẹ  thì không bảo con tới lớp đâu… miết rứa đó”.

           Những gian truân, vất vả tưởng chừng như là cửa ải khó vượt qua, nhưng sứ mệnh gieo chữ trồng người vẫn thôi thúc trong lòng lớp giáo viên trẻ. Dường như có một mạch ngầm giữa các thế hệ thầy cô để họ nối tiếp công việc “làm người đưa đò” chưa một ngày ngơi nghỉ. Họ vẫn quyết định lên với nóc làng hẻo lánh. Những giáo viên trẻ mới ngoài 20 nhưng bắt đầu yêu núi rừng, yêu những đứa học trò đen nhẻm, lem luốt. Cuộc đời họ gần như đã thuộc về nơi đây, họ mang hết tâm huyết vào việc gieo chữ ở núi cao./.

----

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC