NGƯỜI Ê ĐÊ
Tên tự gọi: Anăk Ê Đê
Tên gọi khác: Anăk Ê Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), Ê Đê Êgar, Ðê.
Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan.
Số dân: 331.194 (Tổng cục Thống kê năm 2009).
Người Ê Đê cư trú tại 59 tỉnh, thành phố, đông nhất tại các tỉnh: Đắc Lắc (298.534 người, chiếm 17,2% dân số), Phú Yên (20.905 người), Đắc Nông (5.271 người), Khánh Hòa (3.396 người).
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm
ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Năm 1923, người Ê Đê bắt đầu dùng chữ ký âm
Latinh ký âm.
Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng, một tháng có 30 ngày. Năm được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ...

Voi - phương tiện vận chuyển của người Ê Đê xưa. Ảnh: KT
Nguồn gốc lịch sử:
Theo các nhà dân tộc học, từ thế kỷ I-X trước công nguyên, các tộc người ở miền Nam Ấn Độ đi về phía Nam theo sông Mekong rồi đi ra biển Đông và dừng lại cư trú tại các quần đảo Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore… Một số tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo và Môn Khơ-me vào định cư tại đất liền. Trong nhóm định cư tại cao nguyên Việt Nam có người Ê Đê.
Theo tài liệu “Khảo cổ học tiền sử Đắk Lắk” (PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Viện Khảo cổ học Việt Nam, nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2005), con người đã có mặt trên cao nguyên Đắc Lắc cách đây 3000-4000 năm.

Bến nước. Kể cả khi có nước máy, thì nước đổ rượu cần và nước uống vẫn thường được lấy từ bến nước. Ảnh: KT.
Đặc trưng tộc người:
Người Ê Đê sống
thành từng buôn. Buôn làng truyền thống phải có đủ các yếu tố: Khu đất rộng và
phẳng, bến nước, khu đất làm rẫy, khu đất nhà mồ (nghĩa địa), khu rừng (giữ
nguồn nước và cung cấp sản vật nuôi sống cộng đồng).
Buôn thường mang
tên người có công với dòng họ (thường là tên phụ nữ), hoặc tên sông suối, núi
đồi. Đứng đầu buôn là chủ bến nước. Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, con cái mang
họ mẹ, tài sản thuộc về phụ nữ. Phụ nữ đi cưới chồng.
Bến nước là nét đặc trưng văn hóa của các buôn làng Ê Đê. Chủ bến nước (thường là phụ nữ), là người tìm ra bến nước, tìm ra vùng đất làm nơi định cư của buôn làng. Chủ bến nước có quyền cấp đất ở, đất làm rẫy, đất chôn cất người chết và tổ chức các lễ hội truyền thống. Nước ở bến nước được người Ê Đê coi là nguồn nước sạch nhất. Đồng bào thường lấy nước bằng quả bầu, uống trực tiếp. Bến nước là “phần hồn” của các buôn làng Ê Đê.

Nhà dài. Ảnh: KT.
Nhà truyền thống
của người Ê Đê là những ngôi nhà sàn dài đến nỗi “con voi đi mỏi chân mới hết”
(sử thi Đam San), dài từ 100m trở lên, mô phỏng hình con thuyền. Các thành viên
đại gia đình sống trong ngôi nhà sàn này (thường là 5-7 cặp vợ chồng). Cầu
thang nhà dài thường có 7 bậc. Đầu cầu thang tạc hình mặt trăng lưỡi liềm và
hai bầu vú, tượng trưng cho sức sống, uy quyền và vai trò quan trọng của người
phụ nữ.
Ngày nay, nhà sàn
thường chỉ dài 15-20m, riêng biệt cho từng gia đình nhỏ. Nhiều người Ê Đê nay
sống trong nhà trệt, nhưng vẫn dựng thêm nhà sàn bên cạnh.
Xưa, canh tác lúa
rẫy chiếm vị trí quan trọng. Người Ê Đê chủ yếu trồng theo kiểu luân canh, sau
5-7 năm canh tác thì bỏ hóa đất, đi đốt mảnh rẫy khác, trong khi chờ đất hồi
phục để quay lại sản xuất tiếp. Mỗi gia đình có vài mảnh rẫy như vậy. Nhóm Ê Đê
Bih sống ở vùng đầm lầy thì trồng lúa nước.
Người Ê Đê cũng chú trọng chăn nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn, trâu, bò. Trâu, bò chủ yếu làm vật hiến sinh trong các lễ hội lớn. Người Ê Đê còn đánh bắt cá trên sông, suối và khai thác lâm sản. Ngày nay, cây trồng chủ yếu trong vùng đồng bào Ê Đê là cây công nghiệp: cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, ca cao…

Chi tiết điêu khắc trên xà nhà. Ảnh: KT
Nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất của người Ê Đê là trồng bông dệt vải, dệt váy áo, chăn bằng khung dệt giống người Inđônêdiêng. Người Ê Đê có câu: “Đẻ con gái phải dạy nghề dệt vải, đẻ con trai phải dạy bắn nỏ, đi rừng”. Họ còn có nghề trồng cói, dệt chiếu, đan lát, làm gốm, nghề rèn, tạc tượng (chủ yếu là tượng nhà mồ). Những nghề thủ công truyền thống này đang mai một.
Nghệt thuật điêu khắc của người Ê Đê rất phong phú và đa dạng, được thể hiện đậm nét qua kiến trúc nhà ở, nhà mồ. Điển hình là tượng nhà mồ. Tượng được làm bằng gỗ, chạm khắc các hình khối, đường nét tinh tế, khỏe khoắn. Được tạc nhiều nhất là tượng nam nữ giao hoan, nam – nữ phô bày sinh thực khí, phụ nữ mang thai… Tất cả được dựng quanh ngôi mộ.
Người phụ nữ chủ gia đình được mời cầm cần rượu đầu tiên. Ảnh: KT
Ẩm thực: Bữa ăn
hàng ngày của người Ê Đê thường có cơm tẻ, một đĩa cá, một đĩa rau, một tô cà
đắng nấu với cá khô hoặc tép, một bát nước mắm hoặc một đĩa muối chấm (giã với
lá rừng và ớt). Trong các nghi lễ - lễ hội, cơm lam, thịt nướng, cà đắng, rượu
cần là những món chính được dâng cúng thần linh. Mọi người trong buôn đến dự lễ
được thết đãi những món ăn này. Khách ăn uống no say tới khi rượu nhạt mới chia
tay chủ nhân ra về. Tiễn khách, chủ nhà thường biếu mỗi người một nắm xôi, một
ít thịt mang về cho con cháu.
Người Ê Đê có tục
ăn trầu. Ngày nay, không còn nhiều người giữ tục này.
Phụ nữ Ê Đê
thường búi tóc sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi. Họ thường có hai kiểu
chít khăn: khăn chít ra đằng sau gáy hoặc trước trán vận chéo hình chữ nhân
(như lối đội khăn của phụ nữ Chăm). Chiếc váy cổ truyền của phụ nữ gọi là
Myêng. Đó là loại váy mở, màu chàm, quấn quanh thân. Chạy dọc dưới thân váy là
những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp, con tắc kè, chim, cá, hình người với màu
đỏ pha lẫn trắng, vàng khá sặc sỡ.
Căn cứ vào chất lượng và hoa văn, người Ê Đê có nhiều loại váy: Myêng Đêch, Myêng Drai, Myêng Kdruêch piêk, Myêng Mút. Váy Đêch quý hơn cả, trước đây trị giá 2-3 con trâu.

Trang phục truyền thống của người Ê Đê. Ảnh: KT
Nam giới Ê Đê mang khố, gọi là kpin. Có các loại khố: Ktêh, Drai, Bơng, Bal, Mlang. Giá trị nhất là khố Ktêh, trước đây trị giá 2-3 con trâu. Áo cánh mặc trong lễ hội của đàn ông Ê Đê được trang trí một mảng đỏ rực ở ngực áo, hình đại bàng dang cánh, tượng trưng cho khí phách và khát vọng vươn lên của người Ê Đê.
Khi ra khỏi nhà,
đàn ông Ê Đê xưa thường đeo gùi, ngậm tẩu thuốc. Đó cũng là một cách trang sức
thêm cho bộ trang phục cổ truyền.
Người Ê Đê có nền
văn hóa dân gian vô cùng phong phú. Kho tàng sử thi (khan) được truyền miệng,
ca ngợi những vị anh hùng chiến đấu chống thiên tai, cường quyền, như: Đam San,
Đăm Di, Khing Jú, Dăm Tiông, M’Drông Dăm, Dăm Trao – Dăm Rao…
Bên cạnh sử thi, người Ê Đê còn có kho tàng truyện cổ khá phong phú gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, câu đố, ngụ ngôn… Hầu hết các câu chuyện đều đi sâu giải thích sự hình thành trời đất, muôn vật, cây cỏ, con người.
Chinh
Kram
(chiêng tre) – người tập đánh chiêng thường bắt đầu từ bộ chiêng này.
Người Ê Đê thường ngồi khi đánh chiêng. Trong nhà sàn, ghế dài (kpan)
dựng sát vách là chỗ ngồi của đội chiêng. Ảnh: Báo Đắc Lắc.
Người Ê Đê rất
yêu ca hát, tấu nhạc. Họ có những điệu múa, điệu dân ca (Ayray, Kưưt, Mmuin).
Nhạc cụ cổ truyền của người Ê Đê rất phong phú, được xếp theo bộ gõ, bộ dây, bộ
hơi.
Bộ chiêng của người Ê Đê (thuộc bộ gõ) có 10 cái. Người Ê Đê đánh chiêng bằng dùi bọc vải, vừa đánh vừa dùng tay trái giữ nhịp chiêng. Đi cùng với chiêng có trống cái (H’gor). Theo quan niệm của họ, cồng chiêng có thể giúp con người thông tin trực tiếp với thần linh. Cồng chiêng không được sử dụng bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các lễ hội của buôn làng. Người Ê Đê ngồi thành hàng khi đánh chiêng.
Nhạc cụ của người Ê Đê được chế tạo từ tre nứa, gỗ, đá, sừng, kim loại… Đó là ching kram (chiêng tre), đing năm, đinh pah, đinh buốt, đinh tak tar, đing pâng, đing lơng khơng, đing ring, đinh tuut, đàn brố, đàn goong…

Lễ cúng thần lúa ở buôn T'Liêr (Hòa Phong, Krông Bông, Đắc Lắc). Ảnh: KT
Người Ê Đê quan
niệm mọi sự vật hiện tượng trong cuộc sống đều có thần linh. Thế giới thần linh
chia thành hai loại: thần thiện và thần ác. Người Ê Đê theo tín ngưỡng đa thần,
không thờ vật tổ như các dân tộc khác, nên trong lễ hội dân gian họ chỉ quan
tâm đến phần lễ là chính. Các nghi lễ này thường kèm theo vật hiến tế thần linh
như trâu, bò, heo, gà, rượu cần. Họ diễn tấu cồng chiêng để gọi các thần.
Ngày trước, chỉ
trồng lúa một vụ, dựa vào nước trời, nên từ tháng 11 đến tháng 3 là khoảng thời
gian rảnh rang, người Ê Đê thường tổ chức lễ hội. Mùa này thường được gọi là
“mùa ăn năm uống tháng”.
Người Ê Đê có hai hệ thống nghi lễ - lễ hội, đó là hệ thống nghi lễ - lễ hội vòng đời người và và hệ thống nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa.
Nghi lễ vòng đời người gồm những lễ cúng từ khi người mẹ mang thai cho tới khi già, những lễ cúng nhà mới, lễ kết nghĩa, lễ tiếp khách… và cuối cùng là lễ bỏ mả.
Nghi lễ nông nghiệp (lễ hội vòng cây lúa) gồm những lễ cúng từ khi khai khẩn đất đai, tới làm mùa, thu hoạch, cúng tạ ơn các thần nông nghiệp, cúng mừng lúa, cúng nồi cơm, cúng hồn lúa, cúng bến nước, lễ cầu no đủ…
(Theo Người Ê Đê ở Việt Nam – NXB Thông Tấn 2010)


Viết bình luận