Tại xóm Đồng Vòi, xã Dân Tiến, anh Nguyễn Văn Tuấn phát triển mô hình nuôi chim bồ câu. Năm 2025, đàn chim của gia đình đạt khoảng 1.400 đôi, sản phẩm được bán cho nhà hàng và thương lái, trong đó có khách hàng ở Bắc Ninh, Thái Nguyên và các địa bàn lân cận. Ngoài ra, vợ chồng anh còn nuôi gà mái đẻ, trồng rau màu; tổng thu nhập sau khi trừ chi phí từ các mô hình đạt hơn 250 triệu đồng mỗi năm.
Anh Tuấn cho biết, thị trường về chim bồ câu này thì khá là rộng. Nhà hàng rồi buôn lái đến lấy rất là nhiều. Chủ yếu mình mang đi giao ở các địa bàn lân cận như Bắc Ninh hoặc là đi Thái Nguyên. Mô hình chăn nuôi của gia đình anh Tuấn cho thấy việc chọn cách làm phù hợp với điều kiện của hộ và gắn sản xuất với đầu ra có ý nghĩa quan trọng. Với các hộ tham gia chương trình hỗ trợ, địa phương cần khảo sát điều kiện đất đai, lao động, kinh nghiệm và nhu cầu thị trường trước khi lựa chọn cây trồng, vật nuôi.
Ông Trần Lê Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Dân Tiến cho biết, địa phương rà soát hoàn cảnh và điều kiện của từng hộ nghèo, đồng thời lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ sinh kế, việc làm và thu nhập. Để đảm bảo giảm nghèo bền vững, thời gian qua, địa phương quan tâm, nắm bắt điều kiện của từng hộ nghèo, có kế hoạch hỗ trợ và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ người dân phát triển kinh tế và giảm nghèo. Trong đó, tập trung vào các mô hình cũng như chương trình dự án để hỗ trợ bà con nhân dân có sinh kế, có việc làm và tạo thu nhập. Từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều địa phương triển khai mô hình chăn nuôi trâu, bò, dê sinh sản; trồng dược liệu dưới tán rừng; nuôi gia cầm, phát triển cây trồng vụ đông và sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh Thái Nguyên còn gần 22 nghìn hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo. Theo định hướng của tỉnh, hỗ trợ sản xuất cần đi cùng chuyển giao kỹ thuật, liên kết tiêu thụ và đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất. Riêng Đề án số 02/ĐA-MTTQ-BTT giai đoạn 2026-2030 của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 1.000 hộ, trong đó khoảng 65% ở các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tổng kinh phí huy động tối thiểu 20 tỷ đồng. Mỗi hộ tham gia được hỗ trợ ban đầu tối thiểu 20 triệu đồng bằng cây, con giống, vật tư hoặc phương tiện sản xuất, đồng thời được tập huấn kỹ thuật, quản lý kinh tế hộ, kết nối tiêu thụ và tiếp cận tín dụng ưu đãi.
Ở xã Sảng Mộc, bên cạnh hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất, người dân còn cần hạ tầng thiết yếu để vận chuyển hàng hóa và duy trì mô hình. Bà Đặng Thị Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã, đề nghị xã Sảng Mộc rất mong chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm tạo điều kiện và đề nghị Ủy ban dân tỉnh Thái Nguyên tiếp tục có các chương trình phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư nâng cấp các cơ sở hạ tăng thiết yếu phục vụ cho đời sống bà con nhân dân.
Ông Nguyễn Mỹ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết: các chương trình sẽ tập trung hỗ trợ người dân tham gia chuỗi liên kết giá trị, phát triển sản xuất; đồng thời đầu tư hạ tầng nông thôn để đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa. Hỗ trợ thực hiện các chuỗi liên kết giá trị giúp cho người dân tham gia vào các chuỗi giá trị. Qua đó, phát triển hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế cho người dân, tiến tới giảm nghèo. Thứ hai, thông qua chương trình nông thôn mới hỗ trợ cho các xã về cơ sở hạ tầng, chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất để làm sao giúp cho người dân có một cơ sở hạ tầng tốt đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất, cũng như lưu thông sản xuất hàng hóa.
Thái Nguyên đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%. Để các mô hình góp phần vào mục tiêu này, cần theo dõi hiệu quả sau hỗ trợ hộ dân có duy trì được sản xuất, sản phẩm có đầu ra và thu nhập có cải thiện hay không. Việc lựa chọn đúng mô hình, hướng dẫn kỹ thuật, bổ sung hạ tầng và kết nối thị trường sẽ quyết định nguồn lực hỗ trợ có tạo được sinh kế lâu dài cho người dân vùng cao hay không.

Viết bình luận