C’lâng n’đoo đoọng ha bhiệc pa choom bh’rợ tr’nêng da ding k’coong Quảng Nam?
Thứ sáu, 00:00, 16/09/2016
Dáp tước cr’chăl đâu, cóh vel đong tỉnh Quảng Nam vêy 47 zr’lụ pa choom bh’rợ tr’nêng, zập c’moo vêy lấh 30.000 ch’nắc bơơn pa choom. Lâng zr’lụ 6 chr’hoong da ding k’coong vêy 7 zr’lụ pa choom bh’rợ đoọng ha đhanuôr acoon cóh lâng ca r’bhầu chu ma nuýh bơơn pa choom bh’rợ...

          Đh’rứah lâng đếêc, bhrợ têng cơnh ooy đoọng pa câl, bh’rợ tr’nêng đoọng ha đhanuôr acoon cóh nắc muy c’lâng bh’rợ k’đháp lâng xoọc bơơn tỉnh Quảng Nam pa chắp tước. Tấn Sỹ, CTV Đài TNVN xay moon:

            C’moo đâu, trường trung cấp bh’rợ tr’nêng đha đhâm c’mor acoon cóh da ding k’coong Quảng Nam vêy 10 bh’rợ tr’nêng pa too pa choom, lâng k’nặ 500 đha đhâm c’mor nắc đhanuôr acoon cóh đhị 6 chr’hoong da ding k’coong ting pấh học tập. Bơơn pa choom apêê bh’rợ tr’nêng pa tệêt lâng pr’ắt tr’mông cơnh: Mộc, b’băn, thú y, lâng bơơn zúp zooi zập chế độ chính sách ting cơnh quyết định 1856 âng Chính phủ đắh pa too pa choom bh’rợ vel bhươl, tu cơnh đếêc bấc đha đhâm c’mor acoon cóh bhui har pa bhlầng. Đhơ cơnh đếêc, bh’rợ chếêc bơơn bhiệc bhrợ tợơ ơy glúh đắh trường, nắc râu âng apêê xoọc k’rang. A noo Ka Phu Lan, chr’val Cà Dy, chr’hoong Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đoọng năl:

            Bêl học ooy trường nâu, a cu lêy c’rơ bh’rợ âng cu bơơn ha dưr dal, liêm choom lấh bêl dzợ học phổ thông, bêl glúh đắh trường, a cu rơơm nhà nước zúp zooi đoọng ha cu bơơn vêy bhiệc bhrợ.

            Tước tợơ chr’val Ba, chr’hoong Đông Giang, a noo Zơ Râm Đôn xoọc ting học thú y, a noo cung xoọc k’rang cắh vêy bhiệc chô bhrợ, prá xay lâng a zi, a noo Đôn đoọng năl:

            Cung chếêc zước bhrợ, chuyên môn âng đay đắh ooy nắc zước bhrợ đắh đếêc. Ha dang cắh choom nắc cung cắh năl cơnh bhrợ, học xang nắc chô ooy đong, hâu chếêc bhrợ têng.

            Ting cơnh dáp lêy t’mêê đâu, đhị zr’lụ da ding k’coong Quảng Nam, zập c’moo nắc vêy k’nặ 5000 ch’nắc bơơn pa too pa choom. Đhơ cơnh đếêc, nắc lấh 50% đợ n’nắc nắc vêy bhiệc bhrợ têng tợơ ơy glúh đắh trường. Đhr’năng lalua pa choom bh’rợ tr’nêng đhị da ding k’coong Quảng Nam dzợ lưm bấc râu cắh liêm cơnh: đợ apêê trường bh’rợ tr’nêng lalấh bấc, cắh vêy pa tệêt pa zưm liêm nhâm, pa xoọng đếêc nắc apêê doanh nghịêp dzợ cắh ơy chếêc lêy năl râu boóp p’rá za zưm lâng apêê zr’lụ pa bhrợ, lấh mơ bấc bh’rợ tr’nêng truyền thống âng đhanuôr acoon cóh cơnh: taanh n’đoóh a doóh, taanh zong, a pậ… cung cắh ơy pa ghít pa choom. Tu cơnh đếêc, c’lâng bhrợ t’váih bh’rợ tr’nêng, t’váih bhiệc bhrợ  tơợ ơy glúh đắh trường nắc c’lâng bh’rợ k’đháp lâng da ding k’coong Quảng Nam. T’coóh Nguyễn Qúi Quý, Hiệu trưởng trường đha đhâm c’mor da ding k’coong Quảng Nam k’đươi moon:

            Vêy chính sách t’pấh k’rơ lấh mơ dzợ bơr pêê doanh nghiệp đắh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp k’rong bhrợ têng đoọng ha da ding k’coong. Đắh đâu, nắc bhlếh lơi bơr bh’rợ, râu bơr nắc t’váih râu pa tệêt pa zưm bhlưa zr’lụ pa too pa choom lâng k’bhúh pa bhrợ cóh da ding k’coong, râu bơr cơ chế nâu nắc t’bhlầng pa dưr đhị da ding k’coong, xăl cơ cấu kinh tế tợơ ch’chóh b’bệêt ooy công nghiệp.

            Prá xay lâng t’coóh Nguyễn Thuỳ, Phó Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Nam đắh bh’rợ nâu, t’coóh đoọng năl:

            Cơnh đếêc, bêl glúh đắh trường nắc apêê doanh nghiệp t’moọt đoọng bhrợ têng, bêl đếêc apêê vêy muy k’bhúh ma nuýh pa bhrợ ơy bơơn pa too pa choom liêm ta níh ting cơnh kiêng dua âng doanh nghiệp, cắh cợ nắc muy c’la đươi dua pa bhrợ, bêl đếêc nắc bhrợ têng liêm bhiệc t’váih bhiệc bhrợ, tợơ đếêc pa choom bh’rợ tr’nêng pa tệêt liêm lâng t’váih bhiệc bhrợ bơơn tệêm ngăn.

            Lấh mơ quyết định 1856 âng Chính phủ, x’rịa c’xêê 7 t’mêê đâu, HĐND tỉnh Quảng Nam cung ơy xay moon đắh cơ chế t’pấh, mức zên bạc zúp zooi pa choom bh’rợ tr’nêng đoọng ha đhanuôr acoon cóh. Cóh đếêc, tệêm ngăn m’bứi bhlầng 60% ma nuýh học vêy bhiệc bhrợ tợơ ơy pa choom xang; 80% ma nuýh học vêy bhiệc bhrợ tợơ ơy pa choom xang lâng apêê khoá cơnh apêê k’dua âng doanh nghiệp đhị zập zr’lụ pa choom bh’rợ ếêh râu hệ thống công lập âng tỉnh. Lâng t’váih bhiệc bhrợ nâu, bhiệc “ ma nuýh pa choom bấc- ma nuýh pa bhrợ m’bứi” cắh cợ bhiệc t’váih bhiệc bhrợ tợơ ơy pa choom xang cóh da ding k’coong Quảng Nam nắc doó dzợ lưm k’đháp cơnh lalăm a hay. Nâu đoo nắc pr’đợơ đoọng pa dưr dal bh’nơơn bh’rợ, pa xiêr đha rựt đanh mâng zr’lụ đhanuôr acoon cóh đhị tỉnh Quảng Nam

 

 HƯỚNG ĐI NÀO CHO ĐÀO TẠO NGHỀ MIỀN NÚI QUẢNG NAM?

                   Tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 47 cơ sở dạy nghề, hàng năm có trên 30.000 người được đào tạo. Riêng khu vực 6 huyện miền núi cao có 7 cơ sở đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số, với hàng nghìn lượt người được học nghề. Song, làm thế nào để giải quyết vấn đề đầu ra, công ăn việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số là một bài toán đã và đang được tỉnh Quảng Nam tính đến. Tấn Sỹ-CTV Đài TNVN phản ánh:

         Năm 2016, trường trung cấp nghề thanh niên dân tộc miền núi Quảng Nam có 10 ngành nghề đào tạo, với gần 500 thanh niên là đồng bào dân tộc thiểu số ở 6 huyện miền núi cao tham gia học tập. Được đào tạo các nghề gắn liền với cuộc sống như: Mộc dân dụng, chăn nuôi, thú y, lại được hỗ trợ đầy đủ các chế độ chính sách theo quyết định 1856 của chính phủ về đào tạo nghề lao động nông thôn, nên nhiều thanh niên dân tộc thiểu số rất phấn khởi. Song, câu chuyện việc làm sau khi ra trường, là điều mà họ đang lo lắng. Anh Ka Phu Lan, xã Cà Dy, huyện Nam Giang  cho biết:

            Khi học ở trường này, em thấy tay nghề mình nâng lên, tốt hơn so với hồi còn học phổ thông, khi ra trường, em mong nhà nước giúp đỡ cho em được việc làm.

            Đến từ xã Ba, huyện Đông Giang, anh Zơ Râm Đôn đang theo học ngành thú y, song nỗi lo khi ra trường không có việc làm vẫn ám ảnh anh:

           Chắc xin một chỗ, chuyên môn mình bên đó thì mình xin chỗ đó, nhưng nếu không được thì chấp nhận thôi, học xong thì về nhà thôi, đâu có làm cái chi.

            Theo thống kê mới đây ở khu vực miền núi tỉnh Quảng Nam, mỗi năm có gần 5000 người được đào tạo. Tuy nhiên, chỉ có hơn 50% số đó là có việc làm sau khi ra trường. Thực tế công tác đào tạo nghề ở miền núi Quảng Nam còn gặp rất nhiều bất cập như: số lượng trường nghề quá nhiều, lại thiếu sự liên kết đào tạo, thêm vào đó, các doanh nghiệp vẫn chưa tìm được tiếng nói chung với các cơ sở đào tạo, ngoài ra nhiều ngành nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số như: dệt thổ cẩm, đan lát thủ công…vẫn chưa được quan tâm đào tạo. Do đó, hướng mở cho công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm sau khi ra trường vẫn là bài toán đối với miền núi Quảng Nam. Ông Nguyễn Qúi Quý, Hiệu trưởng trường thanh niên dân tộc miền núi Quảng Nam kiến nghị:

         Có chính sách thu hút mạnh hơn nữa một số doanh nghiệp ở lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đầu tư cho miền núi. Vấn đề này sẽ giải quyết được hai vấn đề, thứ nhất có sự liên hệ chặt chẽ giữa một bên là cơ sở đào tạo, một bên là cần lực lượng lao động tại chỗ tại miền núi, cái thứ hai cơ chế này sẽ thúc đẩy sự phát triển ở miền núi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp.

            Trao đổi với Ông Nguyễn Thùy, Phó giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Nam về vấn đề này, ông cho biết:

          Như vậy khi cơ sở đào tạo ra thì các doanh nghiệp sẽ nhận ngay, lúc đó người ta sẽ có một bộ phận người lao động đã được đào tạo theo nhu cầu, yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp hoặc một chủ sử dụng lao động, lúc đó sẽ giải quyết tốt bài toán cần thợ, sẽ có khi đào tạo, hoặc cần thầy thì sẽ đào tạo, khi đào tạo ra có địa chỉ, từ đó việc đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm sẽ ổn.

           Ngoài quyết định 1856 của chính phủ, cuối tháng 7 vừa qua, HĐND tỉnh Quảng Nam cũng đã thông qua cơ chế khuyến khích, mức kinh phí hỗ trợ đào tạo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, đảm bảo tối thiểu 60% người học có việc làm sau đào tạo tại các cơ sở dạy nghề công lập; 80% người học có việc làm sau đào tạo đối với các khóa đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp tại cơ sở dạy nghề không thuộc hệ thống công lập của tỉnh. Và giải quyết được vấn đề này, câu chuyện “thừa thầy-thiếu thợ” hay bài toán giải quyết việc làm sau đào tạo ở miền núi Quảng Nam sẽ không còn lúng túng như trước đây. Đây cũng là cơ sở, là tiền đề để nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Nam./.

 

 

 

Tags:

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC