Giai đoạn 2027-2030, công tác giảm nghèo được thực hiện theo chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP và hướng dẫn rà soát của Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều tiêu chí được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với điều kiện thực tế, làm cơ sở để xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, hướng tới mục tiêu giảm nhanh tỷ lệ nghèo, phấn đấu giảm ít nhất 50% số lượng xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Theo Nghị định 351/2025/NĐ-CP, chuẩn nghèo khu vực nông thôn được xác định trên cơ sở mức thu nhập bình quân đầu người 2,2 triệu đồng/người/tháng. Để hỗ trợ công tác rà soát, Thông tư 25 quy định hệ thống phiếu nhận dạng và chấm điểm tài sản, điều kiện sống của hộ gia đình. Trên cơ sở các thông tin thu thập được, cơ quan chức năng xác định mức thu nhập quy đổi và đối chiếu với chuẩn nghèo theo quy định. Đồng thời, phiếu nhận dạng ban đầu cũng giúp sàng lọc những trường hợp không thuộc diện rà soát, góp phần bảo đảm việc xác định hộ nghèo đúng đối tượng.
Một trong những điểm mới của Thông tư 25 là quy định chấm điểm tài sản theo 6 vùng sinh thái thay vì áp dụng một mức chung trên cả nước. Cách tính này phản ánh đặc thù điều kiện sống của từng vùng. Chẳng hạn, xe máy tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc được xem là phương tiện thiết yếu phục vụ đi lại nên có mức điểm khác với khu vực đồng bằng. Tương tự, một số tài sản phục vụ sinh hoạt ở vùng có điều kiện khí hậu đặc thù cũng được tính điểm phù hợp hơn. Thông tư cũng quy định riêng đối với một số nhóm đối tượng như hộ đông nhân khẩu, người khuyết tật hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo khi thực hiện chấm điểm.
Bên cạnh tiêu chí thu nhập, hộ gia đình còn được đánh giá theo mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Theo quy định, để được xác định là hộ nghèo, hộ gia đình phải thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên trong tổng số 12 chỉ số thuộc 6 nhóm dịch vụ gồm: việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin và nước sạch, vệ sinh môi trường. Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ thể về tình trạng học tập của trẻ em, điều kiện nhà ở, tiếp cận nước sạch, chăm sóc sức khỏe... giúp phản ánh đầy đủ hơn chất lượng cuộc sống của người dân.
Thông tư cũng quy định việc tổng hợp, phân loại hộ nghèo theo nguyên nhân thiếu hụt để các địa phương xây dựng phương án hỗ trợ phù hợp. Đối với các trường hợp không còn khả năng lao động, việc rà soát là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh theo quy định của pháp luật. Danh sách hộ nghèo được công khai, lấy ý kiến cộng đồng dân cư trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đợt rà soát định kỳ hằng năm, quy định cũng cho phép rà soát bổ sung khi hộ gia đình gặp biến cố làm thay đổi điều kiện kinh tế, đời sống.
Việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2027-2030 và quy trình rà soát theo Thông tư 25 hướng tới đánh giá toàn diện hơn điều kiện sống của người dân, thay vì chỉ dựa vào thu nhập. Đây là cơ sở để các địa phương xác định đúng đối tượng, triển khai chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội phù hợp, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một điểm mới của Thông tư 25 là tăng cường tính công khai, minh bạch trong rà soát hộ nghèo. Danh sách hộ nghèo phải được đưa ra lấy ý kiến cộng đồng dân cư trước khi phê duyệt. Quy định cũng cho phép rà soát bổ sung trong năm đối với các hộ gặp biến cố lớn làm thay đổi điều kiện sống, đồng thời tiếp tục theo dõi các hộ đã thoát nghèo để có giải pháp hỗ trợ phù hợp khi cần thiết.
Việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2027-2030 và quy trình rà soát theo Thông tư 25 hướng tới đánh giá toàn diện hơn điều kiện sống của người dân, thay vì chỉ dựa vào thu nhập. Đây là cơ sở để các địa phương xác định đúng đối tượng, triển khai chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội phù hợp, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.

Viết bình luận
Tin liên quan
Trao sinh kế phù hợp để giảm nghèo bền vững
[VOV4] - Với đồng bào dân tộc thiểu số, giảm nghèo không chỉ là hỗ trợ vốn hay trao sinh kế, mà quan trọng hơn là lựa chọn đúng đối tượng, đúng nhu cầu và phù hợp với điều kiện thực tế của từng hộ gia đình.
Trao sinh kế phù hợp để giảm nghèo bền vững
[VOV4] - Với đồng bào dân tộc thiểu số, giảm nghèo không chỉ là hỗ trợ vốn hay trao sinh kế, mà quan trọng hơn là lựa chọn đúng đối tượng, đúng nhu cầu và phù hợp với điều kiện thực tế của từng hộ gia đình.
Hơn 1 triệu cây cà phê tạo sinh kế bền vững cho đồng bào Xơ Đăng
[VOV4] - Trên những sườn đồi xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi (huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum cũ), hơn 1 triệu cây cà phê vừa được trồng mới, mở đầu việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào Xơ Đăng.
Hơn 1 triệu cây cà phê tạo sinh kế bền vững cho đồng bào Xơ Đăng
[VOV4] - Trên những sườn đồi xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi (huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum cũ), hơn 1 triệu cây cà phê vừa được trồng mới, mở đầu việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào Xơ Đăng.
Trao hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo vùng biên
[VOV4] - Ngày 18/6, Đồn Biên phòng Keng Đu, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Keng Đu tổ chức trao 54 mô hình sinh kế cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và từng bước giảm nghèo bền vững.
Trao hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo vùng biên
[VOV4] - Ngày 18/6, Đồn Biên phòng Keng Đu, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Keng Đu tổ chức trao 54 mô hình sinh kế cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và từng bước giảm nghèo bền vững.
Trao cây giống hỗ trợ người dân vùng cao phát triển sinh kế
[VOV4] - Hơn 100.000 cây cà phê, 5.000 cây mắc ca cùng các thiết bị phục vụ sản xuất vừa được trao tặng cho người dân xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, góp phần giúp địa phương mở rộng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế, tạo sinh kế và nâng thu nhập cho đồng bào vùng cao.
Trao cây giống hỗ trợ người dân vùng cao phát triển sinh kế
[VOV4] - Hơn 100.000 cây cà phê, 5.000 cây mắc ca cùng các thiết bị phục vụ sản xuất vừa được trao tặng cho người dân xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, góp phần giúp địa phương mở rộng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế, tạo sinh kế và nâng thu nhập cho đồng bào vùng cao.