Mở lối giảm nghèo cho người Mông ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên
Thứ sáu, 16:50, 18/09/2026 Triệu Thuần Triệu Thuần
[VOV4] - Ở các xã phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, những mô hình trồng rừng, đưa các giống cây mới vào sản xuất đang giúp nhiều hộ dân tạo nguồn thu cao. Ngoài nguồn vốn hỗ trợ, để các mô hình kinh tế hộ gia đình đạt hiệu quả, sinh kế phải phù hợp với điều kiện thực tế và gắn được với đầu ra của sản phẩm.

Từ sân ngôi nhà mới dựng (thôn Khuổi Đẩy, xã Nghĩa Tá), ông Giàng Seo Tờ (người dân tộc Mông) nhìn sang những vạt keo, mỡ xanh tốt đã có thể cảm nhận niềm vui khi đến vụ khai thác. Trước đây thuộc diện khó khăn, gia đình ông Tờ được Hội Nông dân hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi hơn 100 triệu đồng để phát triển kinh tế rừng. Đến nay, diện tích rừng của gia đình có gần 14 héc-ta, trở thành nguồn thu chính. Năm ngoái, tiền bán gỗ nguyên liệu trồng trên 3 héc-ta đã giúp gia đình ông xây được căn nhà kiên cố. Ông Giàng Seo Tờ còn cho biết: Có thêm vốn tích lũy, gia đình tiếp tục mua máy móc, phương tiện phục vụ sản xuất và làm dịch vụ vận chuyển cho bà con trong xóm.

“Nhà nước hỗ trợ gia đình tôi vay vốn, từ đó mình trồng cây keo, cây mỡ được hơn chục héc-ta. Năm ngoái khai thác 3 ha, đủ tiền làm nhà. Bây giờ cũng còn khoảng 3 đến 4 ha là chưa khai thác.”

Với gia đình ông Tờ, nguồn vốn vay không chỉ tạo nên một chu kỳ trồng và khai thác rừng mà phần thu nhập tích lũy được tiếp tục đầu tư, tạo thêm việc làm và thu nhập trong thời gian chờ rừng trồng đến kỳ khai thác. Cách làm này giúp gia đình chủ động hơn thay vì phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất.

Nếu ông Tờ dựa vào lợi thế đất rừng, anh Lục Văn Tứ ở thôn Bản Cậu, xã Yên Thịnh lại chọn một loại cây trồng còn mới tại địa phương. Năm 2023, anh đưa cây măng tây vào trồng thử nghiệm trên diện tích 2.000 mét vuông. Theo tính toán của anh, mỗi năm diện tích này cho thu hoạch 3 vụ, giá trị thu được bình quân khoảng 100 triệu đồng mỗi vụ. Từ kết quả bước đầu, anh đang hoàn thiện hồ sơ để sản phẩm được công nhận OCOP, đồng thời tính đến việc liên kết với các hộ dân để mở rộng diện tích và bảo đảm nguồn cung.

“Cây măng tây về mặt kinh tế thì có giá trị hơn và ở địa phương chưa có nhiều người làm nên mình muốn làm để có cái gì khác với mọi người, sản phẩm mình bán ra được dễ hơn. Hiện tại nguồn cung của mình vẫn chưa đủ cung cấp cho thị trường.”

Hai mô hình khác nhau về cây trồng, quy mô và chu kỳ sản xuất, nhưng đều cho thấy hiệu quả chỉ đến khi nguồn vốn được gắn với một phương án cụ thể, hộ dân trực tiếp đầu tư công sức và sản phẩm có nơi tiêu thụ. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với công tác giảm nghèo ở khu vực phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, nơi địa hình chia cắt, điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các địa bàn còn chênh lệch.

Giai đoạn 2026-2030, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đa chiều bình quân từ 1 đến 1,5% mỗi năm; tại các xã nghèo, mức giảm ít nhất 3% mỗi năm; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 3 đến 4% mỗi năm. Cùng với thu hẹp số xã, thôn đặc biệt khó khăn, tỉnh hướng tới nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước.

Để các chỉ tiêu này đi vào thực tế, việc rà soát hoàn cảnh và khả năng của từng hộ là bước quan trọng. Có hộ cần vốn, có hộ cần kỹ thuật, giống cây trồng hoặc kết nối tiêu thụ; nếu hỗ trợ không đúng nhu cầu, mô hình khó duy trì sau khi chương trình kết thúc. Tại xã Nghĩa Tá, chính quyền đang rà soát các nhóm hộ, lồng ghép nguồn lực từ chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình xóa nhà tạm và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Ông Trần Trung Hiếu, Phó Chủ tịch UBND xã Nghĩa Tá, cho biết:

“Xã đã thành lập Ban Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch để triển khai rà soát cũng như đánh giá và có những phương án giảm nghèo trong thời gian tiếp theo đúng chỉ tiêu được giao. Trong đó, chúng tôi tập trung vào những nguồn lực vào chương trình mục tiêu để từng bước đưa bà con thoát nghèo.”

Ông Dương Hữu Bường, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Thái Nguyên cho biết: Yêu cầu đặt ra không chỉ là đưa chính sách đến đúng đối tượng, mà còn phải theo dõi hiệu quả của từng mô hình để kịp thời xử lý vướng mắc về kỹ thuật, thủ tục và thị trường. 

“Sở cũng sẽ có hướng dẫn, phối hợp chỉ đạo địa phương để triển khai một cách tích cực, toàn diện, để bảo đảm các chính sách cũng như các mô hình được phát huy tối đa. Nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của bà con dân tộc để kịp thời tháo gỡ vướng mắc từ cơ sở, cũng như giải đáp và tháo gỡ tốt nhất trong chính sách, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nói chung.”

Kết quả giảm nghèo không chỉ được tính ở số vốn đã giải ngân hay số mô hình được triển khai, mà ở việc hộ dân có duy trì được sản xuất, bán được sản phẩm và tạo ra thu nhập sau khi hỗ trợ kết thúc hay không. Đây là phần việc các địa phương phía Bắc tỉnh Thái Nguyên cần tiếp tục theo sát khi lựa chọn và nhân rộng sinh kế trong giai đoạn 2026-2030./.

Triệu Thuần

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC