Mức sinh vùng dân tộc thiểu số giảm nhưng tỷ lệ sinh con sớm vẫn còn cao
Thứ ba, 15:15, 11/08/2026 Hoàng Thái Hoàng Thái
[VOV4] - Mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số đang giảm nhưng không đồng đều, trong khi sinh con ở tuổi vị thành niên vẫn cao gấp hơn 3 lần mức chung cả nước.

 

Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số (do Cục Thống kê và Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố) cho thấy, mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số đang giảm, từ 2,35 xuống 2,25 con/phụ nữ. Nhưng con số trung bình này không phản ánh hết bức tranh dân số ở các cộng đồng dân tộc thiểu số. Có tới 15 dân tộc ghi nhận mức sinh tăng, trong khi một số nhóm khác lại giảm rất nhanh.

Mặc dù tổng tỷ suất sinh (TFR) của phụ nữ dân tộc thiểu số ghi nhận xu hướng giảm từ 2,35 con/phụ nữ xuống còn 2,25 con/phụ nữ. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch này ở vùng cao, biên giới vẫn chậm hơn đáng kể so với mặt bằng chung toàn quốc (1,91 con/phụ nữ) và tiếp tục vượt ngưỡng sinh thay thế.

Đáng chú ý, con số trung bình 2,25 con/phụ nữ đã che lấp đi một thực tế đáng lo ngại. Trong khi toàn quốc thực hiện chính sách duy trì mức sinh hợp lý, dữ liệu thực tế lại ghi nhận có tới 15 dân tộc thiểu số có mức sinh tăng. Những "điểm nóng" tăng sinh xuất hiện rõ nét ở một số tộc người với mức tăng từ 0,54 đến 0,66 con/phụ nữ.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự đan xen chặt chẽ của tập quán kết hôn sớm, tâm lý muốn có đông con để gia tăng lực lượng lao động và những rào cản mang tính hệ thống trong việc tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tại địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Trong khi đó, một số nhóm từng có mức sinh rất cao trước đây lại ghi nhận tốc độ giảm sinh vô cùng ấn tượng. Sự suy giảm nhanh chóng ở nhóm này là minh chứng cho thấy tính hiệu quả của các chương trình can thiệp trọng điểm từ Nhà nước, từ việc truyền thông chuyên biệt, cung cấp phương tiện tránh thai miễn phí đến việc đưa cán bộ y tế cơ sở bám sát địa bàn thôn bản, đầu tư hạ tầng giao thông, trường học để nâng cao tỷ lệ tiếp cận giáo dục của trẻ em gái.

Khi quy mô dân số không quyết định mức sinh

Một trong những phát hiện từ dữ liệu nhân khẩu học là quy mô dân số của một dân tộc không tỷ lệ thuận với mức sinh của dân tộc đó. Thực tế cho thấy, mức sinh phân hóa dựa trên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và địa bàn cư trú hơn là số lượng dân cư đông hay ít.

Ngay trong nhóm các dân tộc thiểu số có quy mô dân số lớn (trên 1 triệu người), sự phân tầng cực kỳ rõ rệt. Có những tộc người duy trì mức sinh cao nhất cả nước (3,57 con/phụ nữ), trong khi các dân tộc khác lại có mức sinh dao động quanh hoặc dưới mức sinh thay thế (từ 1,83 đến 1,93 con/phụ nữ).

Ngược lại, có những dân tộc thiểu số với quy mô dân số rất ít người nhưng lại duy trì mức sinh cực cao, dao động từ 3,41 đến 4,32 con/phụ nữ.

Nghịch lý này khẳng định rằng quy mô dân số nhỏ không tự động làm giảm mức sinh để bảo tồn tộc người theo cách tự nhiên. Chính các yếu tố như địa bàn cư trú biệt lập, điều kiện kinh tế khó khăn, rào cản ngôn ngữ và sự thiếu hụt dịch vụ y tế cơ sở mới là những nhân tố cốt lõi giữ chân mức sinh ở ngưỡng cao. Những cộng đồng sống ở vùng lõi nghèo thường duy trì mức sinh cao bất kể quy mô dân số lớn hay nhỏ, biến mức sinh thành một tấm gương phản chiếu sự bất bình đẳng về điều kiện phát triển.

Hệ lụy từ mô hình sinh con sớm

Điểm đáng lo ngại hiện nay là việc sinh con sớm ở phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Trong khi độ tuổi sinh con của phụ nữ cả nước vốn tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi 25-29 thì mô hình sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số lại đạt đỉnh rất sớm, tập trung vào nhóm tuổi 20-24.

Mức sinh đặc trưng của nhóm tuổi 20-24 ở phụ nữ dân tộc thiểu số đạt tới 148 con/1.000 phụ nữ. Từ độ tuổi này trở đi, mức sinh giảm cực nhanh (giảm tới 32% ở nhóm 25-29 tuổi). Trong khi đó, ở quy mô toàn quốc, nhóm tuổi 25-29 mới là độ tuổi sinh phổ biến nhất.

Đặc biệt, chỉ số đáng báo động nhất nằm ở nhóm tuổi vị thành niên (15-19 tuổi): tỷ suất sinh đạt mức 83 con/1.000 phụ nữ - cao gấp hơn 3 lần so với mức trung bình chung toàn quốc cùng độ tuổi (26 con/1.000 phụ nữ).

Tỷ suất sinh cao ở tuổi vị thành niên phản chiếu trực tiếp tình trạng tảo hôn và kết hôn sớm vẫn còn phổ biến tại các thôn bản vùng cao. Việc làm mẹ quá sớm không chỉ làm mất đi cơ hội học tập, đào tạo nghề nghiệp và phát triển kinh tế của người phụ nữ trẻ, mà còn để lại những rủi ro rất lớn đối với sức khỏe của cả bà mẹ lẫn trẻ sơ sinh. Điều này vô hình trung tạo ra rào cản lớn ngay từ điểm xuất phát, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thể chất và trí tuệ của thế hệ tiếp theo.

Cần giải pháp thiết kế riêng cho từng địa bàn

Những con số thống kê cho thấy mức sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số tuy giảm chung nhưng phân hóa mạnh mẽ giữa các nhóm tộc người và vùng cư trú, đi kèm với đó là sự tồn tại dai dẳng của mô hình sinh con sớm.

Thực trạng này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải thay đổi cách tiếp cận cào bằng, đồng nhất. Thay vào đó, cần có những chính sách can thiệp được thiết kế riêng cho từng nhóm dân tộc, từng địa bàn cụ thể, tập trung tháo gỡ rào cản về y tế, giáo dục và nâng cao nhận thức, nhằm hướng tới sự phát triển dân số cân bằng, chất lượng và bền vững./.

Hoàng Thái

Viết bình luận

Tin liên quan

Quảng Ninh có 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Quảng Ninh có 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

[VOV4] - Tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt danh sách 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Quảng Ninh có 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Quảng Ninh có 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

[VOV4] - Tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt danh sách 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Quảng Ngãi ưu tiên nguồn lực tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
Quảng Ngãi ưu tiên nguồn lực tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

[VOV4] - Lồng ghép các Chương trình mục tiêu quốc gia với phát huy lợi thế từng địa phương, Quảng Ngãi tập trung tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số để giảm nghèo thực chất và nâng cao đời sống người dân miền núi.

Quảng Ngãi ưu tiên nguồn lực tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Quảng Ngãi ưu tiên nguồn lực tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

[VOV4] - Lồng ghép các Chương trình mục tiêu quốc gia với phát huy lợi thế từng địa phương, Quảng Ngãi tập trung tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số để giảm nghèo thực chất và nâng cao đời sống người dân miền núi.

Cần Thơ hỗ trợ hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số học tiếng Việt trước lớp 1
Cần Thơ hỗ trợ hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số học tiếng Việt trước lớp 1

[VOV4] - Hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số tại Cần Thơ dự kiến được học tiếng Việt trước khi vào lớp 1 từ nguồn kinh phí hơn 4,2 tỷ đồng. Chương trình nhằm giúp các em có nền tảng ngôn ngữ tốt hơn khi bước vào bậc tiểu học.

Cần Thơ hỗ trợ hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số học tiếng Việt trước lớp 1

Cần Thơ hỗ trợ hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số học tiếng Việt trước lớp 1

[VOV4] - Hơn 8.000 trẻ em dân tộc thiểu số tại Cần Thơ dự kiến được học tiếng Việt trước khi vào lớp 1 từ nguồn kinh phí hơn 4,2 tỷ đồng. Chương trình nhằm giúp các em có nền tảng ngôn ngữ tốt hơn khi bước vào bậc tiểu học.

Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người được tuyển thẳng vào trường THPT công lập
Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người được tuyển thẳng vào trường THPT công lập

[VOV4] - Bộ GD-ĐT đề xuất, học sinh dân tộc thiểu số rất ít người tốt nghiệp THCS được tuyển thẳng vào trường THPT, giáo dục nghề nghiệp và GDTX công lập; học sinh tốt nghiệp THPT được tuyển thẳng vào trường dự bị đại học.

Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người được tuyển thẳng vào trường THPT công lập

Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người được tuyển thẳng vào trường THPT công lập

[VOV4] - Bộ GD-ĐT đề xuất, học sinh dân tộc thiểu số rất ít người tốt nghiệp THCS được tuyển thẳng vào trường THPT, giáo dục nghề nghiệp và GDTX công lập; học sinh tốt nghiệp THPT được tuyển thẳng vào trường dự bị đại học.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC