Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ban hành Quyết định số 803/QĐ-BDTTG, công bố đợt 1 danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn tại 27 tỉnh, thành phố.
27 địa phương đã công bố gồm: Tuyên Quang, Cao Bằng, Lai Châu, Thái Nguyên, Điện Biên, Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đồng Nai, Vĩnh Long.
Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, danh sách mới là căn cứ triển khai các chính sách liên quan giai đoạn 2026-2030.
Quyết định 803/QĐ-BDTTG được coi là căn cứ giúp Nhà nước xác định đúng đối tượng, địa bàn để tập trung nguồn lực đầu tư, hỗ trợ hạ tầng, giáo dục, y tế và phát triển sinh kế, hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Việc xác định, phân định địa bàn giai đoạn 2026 - 2030 được thực hiện theo Nghị định số 272/2025/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/12/2025.
Theo Nghị định, thôn đặc biệt khó khăn phải là thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và đáp ứng ít nhất 2 trong 3 tiêu chí theo quy định.
Đó là tỷ lệ nghèo đa chiều cao gấp từ 4 lần trở lên so với tỷ lệ nghèo đa chiều chung của cả nước; riêng các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mức xác định là cao gấp từ 2 lần trở lên.
Về hạ tầng giao thông, thôn phải đáp ứng tiêu chí có dưới 60% đường thôn và đường liên thôn được cứng hóa, bảo đảm ô tô đi lại thuận tiện quanh năm theo tiêu chuẩn kỹ thuật của pháp luật về đường bộ.
Nghị định cũng quy định tiêu chí liên quan đến mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Việc phân định các thôn, xã đặc biệt khó khăn theo tiêu chí mới không chỉ dựa vào thu nhập mà tiếp cận chuẩn nghèo theo hướng đa chiều hơn. Việc rà soát, xác định đúng địa bàn sẽ giúp tập trung nguồn lực cho những nơi thực sự khó khăn, thay vì hỗ trợ dàn trải.
Xác định đúng nơi khó mới là bước đầu. Quan trọng hơn là nguồn lực được đưa đến đó sẽ được sử dụng như thế nào để tạo ra sinh kế bền vững. Đây cũng là lúc cách tiếp cận giảm nghèo cần chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân phát huy nội lực, chủ động vươn lên.
Ở Lạng Sơn, từ lâu, cây thạch đen gắn liền với đời sống của đồng bào Tày, Nùng ở Tràng Định, Văn Lãng, Na Sầm… Trước đây, bà con chủ yếu bán thô cho thương lái, giá cả bấp bênh, đầu ra thiếu ổn định.
Nhận thấy muốn nâng cao giá trị sản phẩm phải chế biến sâu, chị Chu Thị Hạnh, Giám đốc Hợp tác xã Nông Lâm Dược Dobao, chủ động tìm đến các nhà khoa học để tiếp nhận công nghệ sấy nhiệt, nghiền mịn, đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Hợp tác xã đã nâng cấp sản phẩm thạch đen đạt chuẩn OCOP 3 sao và thương hiệu vàng quốc gia, có mặt trên thị trường toàn quốc.
Mô hình của hợp tác xã đã tạo liên kết, bao tiêu nguyên liệu cho các hộ dân tộc Tày, Nùng, giúp bà con yên tâm sản xuất. Cây thạch đen giờ đây đem lại giá trị gấp 4 - 5 lần trồng lúa, trở thành cây chủ lực giảm nghèo tại địa phương.
Trong quá trình thoát nghèo ấy của người dân, bên cạnh vai trò của doanh nghiệp còn có phần quan trọng ở sự đồng hành của chính quyền. Thay vì hỗ trợ dàn trải, tỉnh Lạng Sơn tập trung quy hoạch 136 mã số vùng trồng VietGAP, hỗ trợ tư vấn hồ sơ OCOP, thưởng trực tiếp theo Nghị quyết 02/2026 của HĐND tỉnh khi sản phẩm nâng hạng sao, kêu gọi doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu…
Cách làm của Lạng Sơn cho thấy, Quyết định 803/QĐ-BDTTG và Nghị định 272/2025/NĐ-CP giúp xác định đúng hơn những nơi thực sự khó khăn để tập trung nguồn lực. Nhưng phân định địa bàn mới chỉ là điều kiện cần.
Nhà nước tạo cơ chế, quy hoạch vùng nguyên liệu và đầu tư hạ tầng; doanh nghiệp đưa công nghệ, tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường; người dân chủ động thay đổi cách làm, nâng cao năng lực sản xuất. Khi các nguồn lực ấy gặp nhau, hỗ trợ mới có thể chuyển thành sinh kế và sinh kế mới có thể trở thành nền tảng để thoát nghèo bền vững./.

Viết bình luận