Câu hát trời ban
Trong ngôn ngữ và tâm thức của đồng bào Tày, then có gốc từ chữ “thiên”, nghĩa là trời. Vì vậy, then được coi là câu hát được trời ban tặng.
Nhà thơ Dương Thuấn, một người con của đồng bào Tày ở Bản Hon, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn trước đây, nay là tỉnh Thái Nguyên nói: nguồn gốc của hát then, của cây đàn tính được kể bằng những câu chuyện cổ tích có từ lâu đời.
Thủa xưa, có anh chàng tên Xiên Cân yêu âm nhạc. Cảm thấy thế gian buồn chán, anh bèn lên trời xin hạt bầu về gieo để làm bầu đàn. Sau đó, anh lại xin cây dâu tằm về nuôi tằm, kéo tơ làm dây đàn. Có dây đàn, có bầu đàn anh lên núi kiếm cây gỗ đẽo thành cần đàn. Anh tạo được chiếc đàn 12 dây.
Khi tiếng đàn của anh gẩy lên, muôn loài quên ăn, quên ngủ. Chim quên hót. Con người mê mải tiếng đàn quên việc đồng áng.
“Ngọc Hoàng mới nghĩ rằng, nếu cứ để trần gian mê mẩn tiếng đàn tính sẽ bị đói khát bởi không thiết lao động, làm việc nữa. Cái đàn 12 dây ông mới cắt đi 9 dây, còn để lại 3 dây thôi. Và cây đàn tính hiện nay nó còn 3 dây, có những vùng có 2 dây thôi”. – Ông Dương Thuấn kể.
Anh Tô Đình Hiệu, giám đốc Trung tâm cung ứng dịch vụ xã Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh cho biết, then bắt nguồn từ những nghi lễ then. Đồng bào Tày nơi đây còn gọi những người thực hành nghề then là những bà tiên.
“Mỗi một cộng đồng người Tày ở mỗi vùng thường có câu chuyện khác nhau về then. Với người Tày ở Bình Liêu, chữ then gần với chữ slin. Từ slin để chỉ những người hoạt động về then, thực hành về then. Những bà then bây giờ chúng ta gọi thì người Tày gọi là bà slin, Mè slin, có nghĩa là hình dung những người đó là tiên trên trời. Những người đấy được trời giao cho nhiệm vụ là cầu nối giữa người với lại trời. Những bà slin sẽ giúp cho người trần gian đem những ước mong lên các bề trên như bà mụ, các tiên để xin những điều tốt đẹp hay là giãi bày những điều tốt đẹp”. – Anh Tô Đình Hiệu chia sẻ.
Nghi lễ then Tày được diễn ra quanh năm, lời then, điệu tính vì thế mà ngân vang, dập dìu trong các bản người Tày mỗi khi có lễ. Lớn nhất là lẩu then - đại lễ, hội then của những người hành nghề.
Lời then, điệu tính khiến cho đời sống tinh thần của đồng bào Tày thêm phong phú nên họ yêu then là vì vậy.
“Nghe then, người ta sẽ học được nhiều cái nhân văn, nhân bản để làm người. Bởi vì thường mỗi bài then, mỗi đoạn then, chương then là một câu chuyện kể để mỗi người học được ở trong đấy, tự rút ra cho mình một bài học gì đấy về cuộc sống”. – Nhà Thơ Dương Thuấn nhận định.
Dân ca nghi lễ
Then là sự sáng tạo của đồng bào Tày. Trước tiên, hát then được coi là dân ca nghi lễ. Khi diễn xướng, bà then phải ngồi trước bàn thờ, phải thắp hương. Phải có cây đàn tính, chùm xóc nhạc gẩy nhịp đệm cho những lời hát then.
Then ra đời từ nhu cầu tâm linh cũng như trong sinh hoạt hằng ngày của đồng bào Tày. Mỗi bài then, mỗi chương đoạn là một câu chuyện thấm đẫm triết học nhân sinh, quan niệm sống và những lời răn dạy đạo lý làm người sâu sắc. Tình yêu thương, sự hòa thuận được đan cài một cách mộc mạc trong câu hát, nghe nhẹ nhàng mà thấm thía vô cùng.
Đó là then nghi lễ, còn then văn nghệ là bài ca về cuộc sống, về lao động sản xuất, tình yêu quê hương, đất nước, với cảnh đẹp, con người. Từng lời then, điệu tính là sự sáng tạo rất thơ của con người.
Nhà thơ Dương Thuấn cho biết thêm: “Ai mà am hiểu then, chỉ nghe tiếng đàn thôi đã thấy khác rồi. Mỗi người đàn đã có một phong vị riêng, mỗi chương then là khác nhau. Then là một sự sáng tạo rất lớn đối với con người. Tất cả những người hát then đều không giống nhau. Tất cả những người đệm đàn tính không phải là họ đệm như nhau. Tức là mỗi người theo một kiểu. Mỗi bài then là một làn điệu”.
Then hỏi – Khi thơ Tày dẫn lối giao duyên
Nếu có dịp đến với bản người Tày ở Bình Liêu dịp mùa xuân hay cưới hỏi, bạn sẽ bắt gặp một không gian then hoàn toàn khác với những điệu then cổ ngày xưa. Đó là thế giới của những câu hát đối đáp thông minh, những lời đối đáp xa gần đầy tình tứ của nam thanh, nữ tú người Tày. Đồng bào gọi đó là then hỏi – một hình thức giao duyên của con trai, con gái người Tày.
“Then hỏi dịch ra là then đối đáp. Trong những dịp vui, đặc biệt là đám cưới người ta sẽ chọn những người hát then giỏi đại diện nhà trai, nhà gái ra hát đối đáp. Để vào được cửa, đón được dâu, nhà trai phải hát xin đường, xin mở cửa, xin trải chiếu cho ngồi, rồi xin lấy đồ mà nhà gái đưa cho cô dâu đem về nhà chồng… Mỗi chặng lại một nội dung”. – Anh Tô Đình Hiệu cho hay.
Theo ông Ngô Tiến Sinh, những lời trong then hỏi thường ví von, xa gần sâu sắc. Người giỏi đối đáp phải nhanh trí, ứng khẩu nhanh và có tư duy nhạy bén.
“Có những hôm phải hát giao duyên đến sáng, muốn nghỉ mà chưa có ai dám. Thậm chí, họ hàng bảo nghỉ trong đó anh em vẫn còn hát. Bởi vì lúc ấy say rồi, đã say là không còn tính thời gian. Then chính là thơ Tày. Thường nó là 4 câu. Có nghĩa là tôi hỏi anh cái gì anh phải đáp vào cái đấy. Nếu không anh sẽ bị thua, lại phải uống rượu”. – Ông Ngô Tiến Sinh cho biết.
Không chỉ xuất hiện trong đám cưới, then hỏi của người Tày còn là khúc ca rộn rã mừng nhà mới, đón khách đến chơi hoặc là lời hỏi thăm của người mới đến bản. Lời đối đáp cứ nối dài giữa chủ và khách khiến cho không khí thêm phần vui tươi với những ca từ đầy trí tuệ.
Then trong đời sống hôm nay
Trong đời sống mới, then của người Tày lại có một không gian diễn xướng hoàn toàn tự do và phóng khoáng. Đó là những khoảnh khắc xuất khẩu thành thơ của người dân khi đứng trước cảnh đẹp thiên nhiên. Hay đơn giản chỉ muốn xua tan mệt mỏi sau giờ lao động trên nương rẫy.
Qua thời gian, các nghệ nhân và trí thức người Tày đã đưa lời mới vào then để ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đất nước, hay tuyên truyền chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước. Lúc này, không gian diễn xướng là các sân khấu văn nghệ rực rỡ sắc màu, với sự trình diễn linh hoạt bởi các hình thức đơn ca, song ca, tam ca hay tốp ca đầy kiêu hãnh.
Qua câu then điệu tính, những điều khô khan trở nên dễ thấm vào lòng người, trở thành sợi dây kết nối tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em cùng chung sống.
Với những giá trị văn hóa độc đáo đó, thực hành then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./.

Viết bình luận