Đạo Bà La Môn và sự bản địa hóa
Điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất trong đạo Bà La Môn của người Chăm đó là sự chuyển hóa không gian thờ tự. Nơi ở của thánh thần là trong hệ thống đền tháp. Tuy nhiên, các công trình này đều nằm trên những quả đồi, biệt lập với làng Chăm.
Nhà dân tộc học, TS Phạm Văn Thành cho biết: “Quy tắc của đạo Bà La Môn không đưa thần thánh vào trong làng. Phải ở cao hơn, ở một chỗ riêng. Bởi họ quan niệm nếu ở chung với con người sẽ không sạch sẽ. Đặc trưng nhà Chăm có đến 5 nhà, gọi là nhà thang. Trong đấy có một gian để thờ, thờ đạo Bà La Môn. Nó quy định tách ra một gian chứ không thờ chung. Nơi ấy họ không ở, hoặc nếu ở thì là người chủ nhà hoặc người con gái cuối cùng”.
Tại các đền tháp này, trung tâm thờ tự cốt lõi chính là bộ ngẫu tượng Linga và Yoni - biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ, thể hiện triết lý phồn thực và sự sinh sôi, nảy nở.
Điển hình như tại tháp Po Klong Grai hay Po Rome, người Chăm gắn thêm tượng các vị vua chúa có công với đất nước lên các bộ Linga - Yoni. Đền tháp lúc này không chỉ là nơi trú ngụ của các vị thần, mà còn là nơi thờ phụng những vị anh hùng dân tộc.
Nhà nghiên cứu, PGS.TS Trương Văn Món, một người con ưu tú của cộng đồng dân tộc Chăm cho hay: “Trong Kate thể hiện trong lễ cúng đền tháp, trước mặt người ta cúng lễ vật trên bàn thờ chính là linga và yoni. Mặc dù sau này người ta khái quát nó lên là linga nó tròn, tượng trưng cho thần Shiva, bệ yoni là vua nó tượng trưng cho thần Vishnu và dưới bệ nó có hình bát giác, tượng trưng cho Brahma. Tam vị nhất thể thì người ta khái quát hóa nó như vậy thôi. Ngẫu tượng mà mình nhìn thấy rõ ràng vẫn là Linga và Yoni. Một yếu tố khác nữa là ở Phan Rang còn gắn tượng vua của họ vào Linga, đồng nhất vua Chăm. Nhưng cái đó người ta nâng lên thành hình tượng thôi. Còn biểu tượng chính trong cúng đền tháp vẫn là Linga - Yoni”.
Theo nhà nghiên cứu dân tộc học - TS Lê Duy Đại, nếu ở Ấn Độ, người ta thờ bộ ba vị thần tối cao là Brahma - Vishnu - Shiva, thì ở cộng đồng người Chăm theo đạo Bà La Môn điều đó lại khá mờ nhạt.
“Nó ảnh hưởng thôi chứ không phải người Chăm bê nguyên si Bà La Môn giáo vào đây. Bà La Môn hóa. Ví dụ, đạo Bà La Môn thường thờ 3 vị thần: Brahma, Vishnu, Shiva. Còn người Chăm, ba vị thần này hầu như mờ, chủ yếu là những vị vua chúa có công với đất nước” - TS Lê Duy Đại nói.
Dấu ấn Bà La Môn thể hiện trong đền tháp, nhà cửa là vậy. Trong sắc phục Chăm, nét văn hóa ấy cũng vẫn được bảo lưu cho đến ngày nay. Bà Châu Thị Tính, người Chăm Bà La Môn ở tỉnh Khánh Hòa cho biết, ngày hội, đám cưới, ngày Tết Kate người Chăm luôn mặc áo dài truyền thống với chiếc khăn choàng đầu. Nó thể hiện cho sự kín đáo, nét duyên của người phụ nữ Chăm.
Hỏa táng, nhập Kut - Về với cội nguồn
Trong tâm thức của người Chăm Bà La Môn, chết không phải là hết, mà là sự khởi đầu, là hành trình trở về với cội nguồn tổ tiên.
Để linh hồn được thanh thản bước sang thế giới bên kia, người Chăm phải trải qua nghi lễ tang ma vô cùng nghiêm ngặt. Trong đó, hỏa táng, nhập Kut được xem là nghi lễ thiêng liêng nhất.
Anh Bá Văn Quyến, cán bộ bảo tàng tỉnh Khánh Hòa cho hay: “Người Chăm khi chết đi, họ sẽ lấy 9 mảnh xương trán để nhập vào nghĩa địa Kut - là nơi an nghỉ cuối cùng của người Chăm. Khi đó, mới được gọi là về với ông bà tổ tiên. Và như vậy, người Chăm tổ chức lễ hỏa táng. Mỗi dòng họ có một nghĩa địa Kut riêng. Kut là nơi linh thiêng, nơi ngự trị của ông bà tổ tiên”.
Thực hiện hỏa táng, nhất thiết phải có củi me. Bà Châu Thị Tính cho biết, việc hỏa táng, nhập Kut không được thực hiện ngay. Nó cần thời gian và được sự cho phép của dòng họ sau khi đã nhóm họp đầy đủ klong - hộp đựng hài cốt.
“Chết đi người ta là chôn 3 năm. Ai có tiền thì có 2 năm rưỡi thôi người ta làm ta làm đám. Lấy lên hỏa táng. Hỏa táng xong 4 ngày, bắt đầu đúng tháng đúng năm. Ví dụ tộc họ cái Tom, là gom lại cái Kut đó bao nhiêu người 50 người hoặc là 20 người. Người ta tập trung 1 năm ta làm. Người ta làm xong người ta rước kiệu đi vô trong Kut đó luôn”.
Đó là lý do vì sao việc nhập Kut của người Chăm Bà La Môn lại phải đợi một thời gian dài mới thực hiện được. Theo anh Bá Văn Quyến, cán bộ Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa, có dòng họ phải đợi đến hàng chục năm.
“9 năm, 10 năm người ta làm chung một lễ nhập Kut thôi. Khi mà có dịp trong dòng tộc mà đủ hài cốt - đủ hộp klong, cỡ khoảng từ 15 - 20 klong. Tùy trường hợp có thể là từ 20 năm. Nó tùy vào dòng họ là ít hay nhiều. Làm lễ nhập Kut là từ đó là xong. Tức là người quá cố đã về với ông bà tổ tiên” - Anh Quyến cho hay.
Sau khi ngọn lửa củi me hoàn thành sứ mệnh thanh tẩy, những klong đựng phần thiêng liêng nhất sẽ được đưa vào Kut - nghĩa trang chung của dòng họ mẫu hệ. Tại đây, những hòn đá tự nhiên láng mịn, vuông vắn được đưa từ trên núi cao về sẽ trở thành “bài vị” đại diện cho người đã khuất.
Nghĩa trang Kut không có nghi lễ cúng thường xuyên. Nơi đây chỉ rộn ràng khi dòng họ tổ chức đại lễ "Tom" - tức là gom họ. Cứ mỗi 5 - 10 hoặc 20 năm, khi trong họ có nhiều người ra đi đã hoàn thành các thủ tục tuần tiết, tộc họ mới họp bàn, rồi tổ chức một đại lễ rước kiệu đưa cốt của hàng chục con người cùng nhập Kut một lần.
Việc nhập Kut vì thế không chỉ phản ánh thế giới quan của người Chăm Bà La Môn, mà còn là sự khẳng định tinh thần đoàn kết của dòng họ. Giữ gìn sợi dây liên kết vô hình với tổ tiên qua tục nhập Kut chính là cách người Chăm bảo tồn bản sắc của mình./.

Viết bình luận