Theo bà Siu Thị Bích Ngọc, người Ba Na ở xã Tơ Tung, tỉnh Gia Lai, bầu hồ lô là một loại cây dây leo. Bà con thường bắc giàn trồng hoặc để cây bò dưới đất, lấy quả.
“Nó có nhiều dạng, hình hồ lô có, quả bầu dài rất đẹp. Trái đầu tiên dày, chắc nên người ta để dành để làm đồ trữ nước. Còn lấy trái ngọn để nấu ăn. Nấu với xương heo, xương gà rất thơm”. – Bà Bích Ngọc cho hay.
Khi còn non, người ta sẽ lấy ruột quả để làm thức ăn. Và khi bầu già, vỏ của nó lại là một phương tiện hữu hiệu để sử dụng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.
Già A Nghễ ở xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi cho biết: “Hồi xưa đâu có đồ đựng nước, chỉ có bầu mình tự trồng. Bầu đắng ăn không được mình lấy đó để làm bầu đựng nước uống”.
Sự tiện dụng khi đựng nước trong quả bầu khô ở chỗ: có thể mang theo bất kỳ đâu. Đi rừng, lên rẫy… Nó lại nhỏ, nhẹ có thể để trong gùi, đeo bên lưng.
Vỏ bầu khô như một vật dụng thân thuộc trong mỗi gia đình đồng bào Ba Na. Đã thành thói quen, mỗi sáng sớm, quả bầu khô được đổ đầy những nước, bỏ trong gùi theo các các bà, các chị lên rẫy. Lúc nghỉ ngơi, mệt nhọc có nước trong bầu khô tiếp sức. Chiều về, họ ghé giọt nước của làng rửa chân tay rồi lại hứng nước vào quả bầu mang về nấu cơm.
Trong nhà mỗi gia đình Ba Na ngày trước đều tích trữ hàng chục quả bầu khô. Quả bầu bụng phình to, thuôn dài ở cuống thường dùng để đưng nước. Quả bầu dáng tròn, nhỏ, thắt eo giữa thân hay được bà con đựng rượu mời khách. Họ sẽ nút kín miệng quả bằng lá cây rừng. Có nhà dùng để đựng hạt giống hoặc đổ gạo mang theo lên rẫy nấu. Có quả lại được bổ đôi làm thìa múc nước, múc canh.
“Hồi xưa ở quê nhà bà mỗi một gia đình người ta cũng phải mấy chục cái như thế. Có nhà phải cả trăm cái, tại vì nó rất là dễ vỡ. Người ta để trữ treo ở trong nhà, trên giàn bếp, để đựng hạt giống cũng được. Đựng hạt giống treo giàn bếp đấy, rồi đựng rượu”. – Bà Bích Ngọc nói.
Nhìn quả bầu nhỏ xinh, đen bóng đẹp mắt là vậy, nhưng bạn có biết, để quả bầu trở thành một vật dụng thiết yếu trong gia đình, bà con Ba Na đã phải mất công gần năm trời mới chế tạo thành công.
Từ vụ thu hoạch trước, người dân đã chọn những trái bầu già, to, đẹp mắt để lấy hạt giống. Trỉa lúa xong xuôi, họ sẽ mang hạt giống bầu gieo xung quanh rẫy hay những chỗ đất trống. Cây bầu lớn mà cũng chẳng cần chăm bón gì nhiều.
Tháng 4, tháng 5 trồng bầu. Đến tháng 10 cây cho thu hoạch. Dây khô đi, bầu từ xanh ngả sang màu vàng, họ thu hái về, rồi lựa những quả đẹp nhất và bắt đầu các công đoạn tạo tác.
Trước tiên, họ dùng dao khoét miệng bầu rồi mang tất cả xuống suối ngâm. Đây chính là công đoạn nạo vét ruột bầu cầu kỳ nhất.
Bà Bích Ngọc kể: “Người ta khoét miệng phần trên, khoét ngay cái phần cuống của nó độ bền tốt lắm. Phải 4 – 5 năm nó vẫn bình thường. Không hư được. Xong là mang đi ngâm nước đúng một tuần. Khi nào nó thối hết cái ruột nó ra rồi đem xúc lấy hột ra. Lấy hột ra xong để thành cái bầu uống nước xong là mình cứ để chỗ giọt nước. Ở quê mình thì có giọt nước – cái bến nước đó là mình cứ để ở ngoài đó. Cứ sáng mình đi múc nước. Mình múc hết cái bầu đấy sáng hôm sau mình lại xúc ra. Xúc ra là mình múc nước khác đổ vào. Thay đi, thay lại đúng một tháng. Khi nào nó hết cái mùi của bầu rồi bắt đầu mới mang về nhà để trên giàn bếp, phơi khô rồi để dành. Kỳ công lắm mới có một bầu nước bình thường, nó không có mùi gì nữa. Phải cả tháng mới được uống”.
Chưa dừng lại ở đó, người Ba Na còn có con mắt thẩm mỹ và óc sáng tạo tuyệt vời hơn thế. Để cho quả bầu trở nên láng mượt với màu đen nhánh họ có công thức truyền đời từ thế hệ cha ông chỉ bằng nguyên liệu gần gũi, sẵn có.
Sau khi bầu được phơi khô nắng, họ cạo từ vỏ của cây me rừng mập mạp lấy chất nhựa dính như keo rồi bôi đều vào thân bầu. Tiếp đó, họ đem đi phơi nắng một ngày. Sau cùng, mang chôn dưới bùn ngoài ruộng 2 – 3 đêm sẽ có được lớp màu đen ưng ý.
Bao đời, những tri thức ấy vẫn được bà con Ba Na vận dụng để sáng tạo ra vật dụng phục vụ cuộc sống.

Viết bình luận