Có dịp đến với Lạng Sơn, vào bản của người Tày – Nùng, hình ảnh quen thuộc nhất có lẽ là những bó thảo dược được treo bên hiên hay góc nhà.
Chị Chu Thị Hạnh, người Tày ở xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn bảo, đó là nguyên tắc bảo quản thảo dược của đồng bào nơi đây. Chúng sau khi thu hái về tuyệt đối không phơi nắng gắt. Phải hong gió tự nhiên cho cây khô, giữ nguyên dược tính và hương vị.
“Thảo dược chỗ mình lúc nào cũng phơi âm can. Nghĩa là mình sẽ không phơi nắng, chỉ hong gió thôi. Trên nhà sàn, góc nhà sàn là có những bó cây ấy. Người ta đi thu về xong người ta treo ở đấy. Cứ đến buổi trưa đi làm về chẳng hạn, gia đình có một cái siêu nước thảo dược để sẵn đấy pha uống thôi. Mỗi một siêu khoảng 3 – 4 lá”. – Chị Hạnh cho biết.
Trong tâm thức của đồng bào Tày, hầu như mỗi loại cây rừng đều mang tính dược riêng. Trải qua quá trình quan sát, thử nghiệm, bà con đúc kết cách chế biến thành thức uống riêng bảo vệ sức khỏe gia đình.
“Trên quê mình hầu như bất kỳ một cây nào cũng đều mang tính dược riêng. Thí dụ cây mạy nghẹng, Tết Đoan ngọ hay còn gọi là Tết diệt sâu bọ người dân sẽ đi chọn hái lá vối này, đi hái lá mạy nghẹng này, hay là mình thu lại những cây nhân trần để dùng cho một năm luôn. Những loại cây ấy mình có thể chế biến thành nước giải khát, thanh nhiệt cho mùa hè”. – Chị Chu Thị Hạnh nói.
Từ thời chưa có điện, chưa có tủ lạnh, bà con người Tày – Nùng nơi đây đã chế biến một món ăn chơi thanh mát mùa hè: món thạch đen. Cây thạch đen còn được người dân gọi với cái tên Tiên Thảo, tiếng địa phương là “lường phẩn”.
Loài cây vốn mọc dại trên núi, qua sáng tạo của đồng bào đã trở thành món giải khát, thanh nhiệt có thương hiệu riêng.
Chị Hạnh chia sẻ: “Cây thạch đen có thể đun lên làm nước uống, hoặc là ngày xưa mình làm thạch. Mình đun nước tro lên và mình chiết lấy cái nước đó để nấu cây, làm cho cây nhừ nhanh hơn. Ngày đấy cứ làm vào trong những thau đồng. Một ngày mình đổ nước suối nguồn ra, thay nước hàng ngày. Làm được một mẻ chậu như thế gia đình đông con ăn được 3 – 4 ngày”.
Nhắc đến nơi biên cương xứ Lạng, là nhắc đến xứ sở của cây hồi – loài cây thảo dược quý giá được cấp chỉ dẫn địa lý. Và từ xa xưa, bà con nơi đây đã sở hữu bí quyết dùng cây hồi để chế biến thức ăn, để phòng bệnh. Từ đây, hồi không chỉ là gia vị nơi góc bếp. Nó còn là phương thuốc chăm sóc sức khỏe của mỗi gia đình Tày – Nùng.
Hoa hồi có màu trắng phớt hồng hoặc đỏ nhạt. Quả hồi có 5 cánh, 8 cánh xòe ra như bông hoa nên đồng bào vùng cao xưa nay quen gọi quả là “hoa hồi”.
Từ xưa, đồng bào Tày – Nùng đã biết dùng quả hồi làm gia vị, tạo nên món ăn mang hương vị đặc trưng. Chị Trần Thị Thu Lan cho hay: “Các cụ nấu ăn này, cho quả hồi vào ngâm rượu. Đau mỏi nhức chân là xoa bóp hay cảm hàn thì uống một chút cho nó giải cảm”.
Để thu hái được những quả hồi giàu tinh chất nhất, bà con phải đợi đúng vụ: đó là vụ mùa hoặc hồi tứ quý. Hồi tứ quý là vụ thu hoạch hồi đầu tiên trong năm của cây, thường nở vào khoảng tháng 6 hoặc rải rác từ tháng Chạp đến tháng 3 âm lịch tùy vùng. Còn vụ hồi mùa là vụ chính, thu hoạch vào tháng 7 đến tháng 9 trong năm. Quả hồi hái về đem phơi và bảo quản tỉ mỉ.
Hồi không chỉ làm gia vị cho món ăn. Nó còn được làm trà để uống. Chị Chu Thị Hạnh nhớ lại cách làm trà hồi truyền thống:“Trà hồi thường là người ta sẽ hãm. Trước đây chỉ thả cả cánh thôi. Nhưng bây giờ mình nghiền và tán bột. Để vào túi mình hãm trà. Quả hồi tốt cho sức khỏe. Mình làm gối, cho những lá thảo dược đã sao khô như đinh lăng, hồi… rồi khâu lại, gối ngủ đêm. Nó có nhiều lợi íc cho cơ thể”.
Mỗi món ăn, chén trà, chiếc gối sáng tạo từ hồi không chỉ chứa đựng tri thức dân gian lưu truyền qua bao thế hệ. Đó còn là nét văn hóa làm nên bản sắc riêng có của đồng bào Tày – Nùng nơi mảnh đất biên cương.

Viết bình luận